Thunder, thunder and lightning in the upland jungle
Thundering sounds, lightning that thunder on
Announcing a parching drought in the midlands
That parches even one’s throat and mind.
Let us beat our drums, our bronze drums to pray to Heaven,
Thundering, they thunder on
For three rolls reaching all the way to the Celestial Court
Asking that propitious rain pour down on Earth:
For us to have water to drink, and water to irrigate the fields,
And rice to eat and hay to cook,
The common people only dreaming of peace,
Peace – a favor of the gods, a gift from Heaven,
So that everything down on Earth can transform into something good.
Let us play loudly on our bronze drums,
Let them thunder to wake up the dawn
With its thousands of shimmering rays:
O! Our country will look so beautiful
And the gourds and watermelons will be so green
As they share the same bower, growing greenly
And swaying in the spring breeze of love
Drunk with joy, every household and every clan will be happy
As they come together to celebrate Tet.
The racing boats fly above the waves of the long river
Bringing so much happiness to one, especially one in love.
Let us play loudly on our bronze drums,
The thousand birds will flap their wings and fly up,
Flying together in a confusion of songs.
They fly back to the source of the national spirit
Where the deer happily prance about
Searching for that source water,
A transparent, clear-water spring
With the drums rolling, we sing in our very bones,
People sing and dance, shaking their spears,
Spears that destroy the wicked,
That deflects devilish schemes and demonic plots,
That clear up pollution far and near.
The gift of Heaven, man’s power will make the earth blossom
As our green planet turns and turns together with the immense universe,
Uncounted are the miracles of Heaven and Earth
As the incarnated rivers roll on and on.
Let’s play loudly on our bronze drums,
The sacred drums that opened up the Van Lang Kingdom,
So that one-day they are reborn again.
Let us play loudly on our bronze drums,
So that our people’s sacred soul can incarnate in the empty shell
Of those who have their culture, their souls and even their fatherland.
Let us go back to the natural virtue of our ancestors,
Restore the basic of Southern morality,
A natural state of love and peaceful disposition,
With mutual help and collaboration within the larger family,
So that the grace of God can be evenly spread, near and far,
Living in the spirit of great harmony as dictated by our ancestral Kings,
At peace spiritually,
At peace with the world,
At peace with Nature.
We will just melt in a world yearning for peace,
The sun burns gloriously,
Our love is immense and powerful
As we offer this drum rhapsody to the Spring of Eternal Peace.
Translated by
Nguyễn Ngọc Bích
Springfield, VA
October 31, 1999
Monday, February 7, 2011
LM Pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh - Nhìn Thấy Chúa Hiện Diện và Hành Động
NHÌN THẤY CHÚA HIỆN DIỆN VÀ HÀNH ĐỘNG
(Suy niệm Tin Mừng Mt 6,25-34)
2011
Lời Chúa với chúng ta
Chúng ta vừa mới nghe Đức Giê-su mời chúng ta đưa mắt nhìn : nhìn chim trời, nhìn bông hoa đẹp. Cần thiết chúng ta phải tìm hiểu xem Chúa muốn chúng ta nhìn như thế nào.
Trong Tin Mừng, Đức Giê-su dạy ta khi đưa mắt nhìn con người hay sự việc.
Đừng dừng lại nơi dáng vẻ bên ngoài
Nấm mồ tô vôi, bên ngoài sơn trắng sạch sẽ, mà bên trong thì dòi bọ rúc rỉa (Mt 23,27).
Con người gạn lọc con muỗi có thể nuốt chửng cả con lạc đà (Mt 23,24).
Anh bạn có cặp mắt thật tinh, muốn giúp mình lấy cọng rác, nhưng lại không thấy cái xà chình ình ngay giữa con ngươi (Mt 7,3).
Ngược lại :
Bà goá nghèo bỏ hai đồng xu có thể là người đã góp phần nhiều nhất khi dâng cúng (Mt 12,43).
Ông thu thuế sống bằng một nghề không mấy lương thiện có thể là con cháu đích thực của tổ phụ Áp-ra-ham (Lc 19,9).
Cô gái điếm mà xóm diềng ai trông thấy cũng dè bỉu, có thể là người đã bày tỏ lòng yêu mến đối với Đức Giê-su hơn cả ông Dòng Ba đạo đức hôm nay mở tiệc khoản đãi khách quý (Lc 7,36-50).
Đừng dừng lại nơi thực tại trước mắt
Em bé dễ thương, ai trông thấy cũng muốn nâng niu, đành rồi. Nhưng Đức Giê-su muốn chúng ta khi đưa mắt nhìn em bé, thì phải nhớ rằng chính bản thân mình mà không hoán cải, không cố gắng để nên như em bé, không có khả năng lớn lên, trưởng thành như em bé thì đừng mơ sẽ được vào Nước Trời (Mt 18,2).
Cánh đồng lúa chín không phải chỉ làm chúng ta đặt câu hỏi liệu chúng ta sẽ thâu hoạch bao nhiêu, nhưng Đức Giê-su còn muốn chúng ta nghĩ đến cánh đồng truyền giáo đầy hứa hẹn, để xin chủ ruộng sai thợ đi gặt lúa về (Mt 9,37).
Bầy gà con nhung nhúc chung quanh con gà mẹ đang xoè đôi cánh trông đẹp mắt vô cùng, nhưng Đức Giê-su muốn chúng ta đừng quên rằng Ngài chính là con gà mẹ, Thiên Chúa Cha sai đến để tập hợp con cái tản mác khắp nơi (Mt 23,37).
Con chim bay lượn trên không có thể làm ai thích nuôi chim muốn bắt bỏ vào lồng má ngắm nghía, nhưng Đức Giê-su muốn chúng ta đừng quên rằng nó không hề gieo, không hề gặt, thế mà Cha trên trời vẫn nuôi (Mt 6,26).
Bông huệ lộng lẫy quá, nhưng Đức Giê-su muốn chúng ta khi nhìn bông huệ, thì đừng quên rằng những tay thợ lành nghề nhất của Pa-ri cũng không mặc đẹp cho minh tinh màn bạc bằng Cha trên trời mặc cho thứ hoa cỏ ngoài đồng, hôm nay còn, ngày mai đã quẳng vào bếp (Mt 6,30).
Từ Lời Chúa đến những câu chuyện thời sự
Lời Chúa mời gọi chúng ta đưa mắt nhìn dưới ánh sáng đức tin, không chỉ cảnh vật thiên nhiên như những bông hoa hay những cánh chim, nhưng còn là những con người, những sự kiện mà Đức Giáo Hoàng Gio-an XXIII đã gọi là “dấu chỉ của thời đại".
Xuân của Đảng
Chắc hẳn vì Đại Hội Đảng lần thứ XI diễn ra 3 tuần lễ trước Tết Nguyên Đán, nên cả tháng nay rồi, trên đường phố cũng như dọc theo quốc lộ, đi đến đâu cũng toàn màu đỏ : nào là cờ đỏ sao vàng, nào là cờ búa liềm, và đủ thứ khẩu hiệu, trong đó có “Mừng Đảng, mừng Xuân !” Thì ra mùa Xuân đã đến, nhưng trước hết và trên hết mọi sự, đây là mùa Xuân của Đảng Cộng Sản Việt Nam, năm nay 81 tuổi. Đến giờ này Đảng vẫn kiên quyết đi theo chủ nghĩa Mác – Lê-nin, một chủ nghĩa đã bị bỏ vào thùng rác tại chính nơi khai sinh ra nó là Liên Xô hơn 20 năm nay rồi. Đã thế, Đảng Cộng Sản Việt Nam còn kiên quyết đi theo định hướng xã hội chủ nghĩa, mà nếu hỏi : nó ở đâu, nó là cái gì, mặt mũi nó ra làm sao, thì chính các đảng viên cũng không ai trả lời nổi.
Những cành hoa giả
Lúc này trên đường phố, hoa giả được bày bán khắp nơi, từ xa trông thật đẹp mắt, nhưng đến gần thì hoá ra là đồ giả. Mà đồ giả thì ở đâu cũng có. Bất chấp những báo cáo lạc quan về tăng trưởng kinh tế, cứ hỏi những người từ những vùng quê nghèo ở miền Bắc, miền Trung vào Sài Gòn làm công nhân, sau một năm làm việc cật lực, cuối năm đem về cho gia đình được bao nhiêu. Hay những người nông dân quanh năm lam lũ, thấy giá lúa cao lên cũng không mừng, vì tiền chỉ vào túi những đại lý thu mua. Hay những ngư dân vay tiền đóng tàu đi bắt cá, nay nằm nhà thì chết đói, mà ra khơi thì sợ gặp “tàu lạ”, không bị bắn chìm thì cũng bị bắt. Đối với những người nghèo như vừa nói, hoặc những trường hợp tương tự, vốn chiếm đại đa số trong xã hội, thì tăng trưởng kinh tế chỉ là bông hoa giả.
Hay là chuyện tự do báo chí : có tới 700 tờ báo đủ loại. Nhưng vì báo chỉ nói những chuyện được phép nói, nên nếu đọc báo để tìm những chuyện muốn biết, cần biết, thì không thấy, đem gói xôi thì mất vệ sinh, cuối cùng nói như nhà văn Nguyễn Khải, chỉ để bán ký. Hoá ra tự do báo chí cũng chỉ là một bông hoa giả.
Hoa giả trong đời sống tôn giáo
Trong đời sống tôn giáo hôm nay, hoa giả cũng không thiếu. Đại Hội Dân Chúa cách đây không lâu là một ví dụ. Nhìn vào các thành phần tham dự, cũng như cách tổ chức và diễn tiến của Đại Hội, thì đây là một Đại Hội các quan chức nhằm áp đặt lên Dân Chúa một đường lối, một hướng đi, hơn là để cho Dân Chúa có cơ hội gặp nhau, cùng nhau cầu nguyện, suy nghĩ, trao đổi, để tìm cho ra ý Chúa mà thực hiện. Thế thì Đại Hội Dân Chúa cũng là một bông hoa giả.
Mới đây nhất là Đại Hội La Vang diễn ra với đầy đủ phong cách của một lễ hội rầm rộ, hoành tráng, nhưng đâu phải vì vậy mà ta được phép quên những gì đã diễn ra tại Toà Khâm Sứ, Thái Hà, Loan Lý, Tam Toà, Đồng Chiêm, Thái Nguyên, Cồn Dầu… Cảnh ông Nguyễn Thiện Nhân, Phó Thủ Tướng Chính Phủ gặp gỡ các giám mục, tay bắt mặt mừng, có thể làm ta nghĩ rằng tương quan giữa Giáo Hội Công Giáo và Nhà Nước Cộng Sản tốt đẹp hơn lên. Nhưng đúng 3 tuần sau, khi đài truyền hình trung ương phát đi cảnh phái đoàn Toà Tổng Giám Mục Hà Nội đến chúc tết Ban Dân Vận Trung Ương thì phát thanh viên giới thiệu một cách hết sức xách mé rằng : “Đoàn đại diện HĐGM/VN do Phê-rô Nguyễn Văn Nhơn dẫn đầu đến thăm Uỷ ban Dân Vận Trung Ương”… rồi sau đó tiếp tục : “thay mặt cho Tổng Giáo Phận Hà Nội, Phê-rô Nguyễn Văn Nhơn bày tỏ…” Cách gọi vị đứng đầu Tổng Giáo Phận Hà Nội và HĐGM/VN cho thấy một cách công khai vị lãnh đạo cao cấp nhất của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam bị truyền thông Nhà Nước đối xử như thế nào. Hoá ra mối tương quan giữa các quan chức đạo-đời ở La Vang cũng là một bông hoa giả.
May thay, không chỉ có hoa giả
Vào những ngày cuối năm Canh Dần, truyền thông lề phải nói rất ít về những gì đang xảy ra tại Tunisia từ hơn một tháng nay. Chuyện bắt đầu từ anh sinh viên nghèo 26 tuổi Mohamed Bouazizi, bán hàng rong trên đường phố, nhưng bị cảnh sát tịch thu cả gánh hàng. Buồn bực và vô vọng vì vốn liếng duy nhất mà anh có được để làm kế sinh nhai đã bị cảnh sát tịch thu, anh quyết định phản kháng bằng cách biến mình thành ngọn đuốc sống. Cái chết thương tâm, vô vọng của anh đã làm bùng lên ngọn lửa từ lâu âm ỉ trong xã hội Tunisia nghèo đói, đầy dẫy bất công. Hàng ngàn người tham dự tang lễ của anh và chính cảm xúc của họ đã biến tang lễ thành cuộc biểu tình tuần hành rồi nhân rộng lên khắp cả nước. Sau 23 năm cầm quyền, và chỉ sau 1 tháng dân chúng kéo nhau xuống đường biểu tình, Ben Ali, tổng thống Tunisia đã phải đem vợ con trốn ra nước ngoài.
Nay thì ngọn lửa đã lan tới Ai-cập, đang hoành hành tại thủ đô Cai-rô và nhiều thành phố khác. Vào lúc quân đội tuyên bố không chống lại người biểu tình thì tổng thống 83 tuổi Hosny Mubarack sau 30 năm cầm quyền chắc sẽ cùng chung số phận với tổng thống Ben Ali của Tunisia. Thế thì điều ta đang chứng kiến là hoa tự do, hoa dân chủ, hoa công lý, hoa nhân quyền đang nở nộ ở Bắc Phi và Trung Đông, đang hứa hẹn một giai đoạn mới của lịch sử không còn chỗ cho các chế độ độc tài toàn trị.
Ngay trên đất nước Việt Nam chúng ta
Điều đáng mừng là ngay trên đất nước Việt Nam thân yêu của chúng ta không chỉ có hoa giấy như tôi đã chứng minh. Có điều những bông hoa thật bị che dấu quá kỹ, tuy vẫn có cách tìm ra được. Xin đưa ra một vài ví dụ :
Trước Đại Hội Đảng lần thứ XI vừa qua, đã có một cuộc hội thảo của một số các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu, các vị đã từng là lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà Nước như các ông Đào Công Tiến, nguyên Hiệu Trưởng trường Đại Học Kinh Tế, Nguyễn Trung, nguyên đại sứ Việt Nam tại Thái Lan, giáo sư Trần Phương, tiến sĩ Lê Đăng Doanh, tiến sĩ Lưu Bích Hồ, v.v… Tất cả đều đông thanh khẳng định là song song với cải cách kinh tế, cần thiết phải có cải cách chính trị. Không thể cứ mãi kéo dài tình trạng Đảng đứng trên luật pháp, Đảng thâu tóm mọi quyền trong tay, nhưng lại không chịu trách nhiệm. Dĩ nhiên đây là loại thông tin nhạy cảm, truyền thông Nhà Nước đâu có đề cập tới. Đây đúng là hoa thật, và là hoa hiếm !
Một ví dụ khác. Bị bắt hôm 05-11-2010, từ trong tù, tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ đã gửi một bức thư cho toàn thể đồng bào Việt Nam, trong đó ông long trọng tuyên bố 3 điều :
1. Mọi người Việt Nam chỉ có một Tổ Quốc là Việt Nam, chủ nghĩa xã hội không phải là Tổ Quốc của người Việt Nam.
2. Đa Đảng là con đường duy nhất để thực hiện một nước Việt Nam thật sự dân chủ, giàu mạnh, công bằng và văn minh.
3. Liên minh quân sự với Hoa Kỳ là cấp thiết và quyết định trong việc giữ vững chủ quyền lãnh thổ quốc gia.
Anh chị em thấy đó, thay vì có thái độ ngoan ngoãn, chấp hành nghiêm túc nội quy của trại giam để được khoan hồng, thì tù nhân Cù Huy Hà Vũ đã hiên ngang và can đảm nói lên xác tín của mình với tình yêu nồng nàn đối với tổ quốc. Quả là một bông hoa quý hiếm trên dải đất cằn cỗi hôm nay.
Ví dụ cuối cùng là câu chuyện La Vang. Đây vốn là nơi theo tương truyền Đức Mẹ đã từng hiện ra trong thời kỳ bắt đạo, để an ủi, củng cố niềm tin cho tổ tiên chúng ta gặp gian nan khốn khó. Ấy thế mà tại Đại Hội vừa qua, khi một số anh chị em tìm cách nhắc nhở mọi người đừng quên những anh chị em bị bách hại ở Thái Hà, Đồng Chiêm, Tam Toà, Cồn Dầu, v.v… thì đã bị ban tổ chức mạnh tay ngăn cản không thương tiếc. May thay, đức cha Hoàng Đức Oanh đã có một cử chỉ của người mục tử nhân hậu khi tìm cách gặp gỡ anh chị em Cồn Dầu để nói lời an ủi. Phải chăng đây là một bông hoa lạc loài giữa cái lễ hội đã không còn biết đến ý nghĩa căn bản của linh địa La Vang ?
Kết luận
Chúa Giê-su mời chúng ta xem hoa. Tôi vừa cố gắng chỉ ra những bông hoa giả để đừng ai bị đánh lừa. Nhưng tôi cũng đã chỉ ra những bông hoa thật, thấp thoáng từ xa, rất xa, nhưng đầy hương sắc, hay những bông hoa ẩn khuất sau vách núi cheo leo, tất cả đều mời gọi chúng ta tin vào quyền năng của Thiên Chúa là Đấng làm chủ lịch sử, tin vào tình yêu của Thiên Chúa là Đấng không bỏ rơi bất cứ ai tin Ngài. Xin Ngài ban cho chúng ta một cặp mắt đức tin đủ sáng, đủ mạnh để nhận ra Chúa đang hiện diện và hoạt động trong thế giới hôm nay.
Nhà thờ Phan-xi-cô Đa-kao, 03-02-2011
Mồng Một Tết Tân Mão
Pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh
ofmpascaltinh@gmail.com
(Suy niệm Tin Mừng Mt 6,25-34)
2011
Lời Chúa với chúng ta
Chúng ta vừa mới nghe Đức Giê-su mời chúng ta đưa mắt nhìn : nhìn chim trời, nhìn bông hoa đẹp. Cần thiết chúng ta phải tìm hiểu xem Chúa muốn chúng ta nhìn như thế nào.
Trong Tin Mừng, Đức Giê-su dạy ta khi đưa mắt nhìn con người hay sự việc.
Đừng dừng lại nơi dáng vẻ bên ngoài
Nấm mồ tô vôi, bên ngoài sơn trắng sạch sẽ, mà bên trong thì dòi bọ rúc rỉa (Mt 23,27).
Con người gạn lọc con muỗi có thể nuốt chửng cả con lạc đà (Mt 23,24).
Anh bạn có cặp mắt thật tinh, muốn giúp mình lấy cọng rác, nhưng lại không thấy cái xà chình ình ngay giữa con ngươi (Mt 7,3).
Ngược lại :
Bà goá nghèo bỏ hai đồng xu có thể là người đã góp phần nhiều nhất khi dâng cúng (Mt 12,43).
Ông thu thuế sống bằng một nghề không mấy lương thiện có thể là con cháu đích thực của tổ phụ Áp-ra-ham (Lc 19,9).
Cô gái điếm mà xóm diềng ai trông thấy cũng dè bỉu, có thể là người đã bày tỏ lòng yêu mến đối với Đức Giê-su hơn cả ông Dòng Ba đạo đức hôm nay mở tiệc khoản đãi khách quý (Lc 7,36-50).
Đừng dừng lại nơi thực tại trước mắt
Em bé dễ thương, ai trông thấy cũng muốn nâng niu, đành rồi. Nhưng Đức Giê-su muốn chúng ta khi đưa mắt nhìn em bé, thì phải nhớ rằng chính bản thân mình mà không hoán cải, không cố gắng để nên như em bé, không có khả năng lớn lên, trưởng thành như em bé thì đừng mơ sẽ được vào Nước Trời (Mt 18,2).
Cánh đồng lúa chín không phải chỉ làm chúng ta đặt câu hỏi liệu chúng ta sẽ thâu hoạch bao nhiêu, nhưng Đức Giê-su còn muốn chúng ta nghĩ đến cánh đồng truyền giáo đầy hứa hẹn, để xin chủ ruộng sai thợ đi gặt lúa về (Mt 9,37).
Bầy gà con nhung nhúc chung quanh con gà mẹ đang xoè đôi cánh trông đẹp mắt vô cùng, nhưng Đức Giê-su muốn chúng ta đừng quên rằng Ngài chính là con gà mẹ, Thiên Chúa Cha sai đến để tập hợp con cái tản mác khắp nơi (Mt 23,37).
Con chim bay lượn trên không có thể làm ai thích nuôi chim muốn bắt bỏ vào lồng má ngắm nghía, nhưng Đức Giê-su muốn chúng ta đừng quên rằng nó không hề gieo, không hề gặt, thế mà Cha trên trời vẫn nuôi (Mt 6,26).
Bông huệ lộng lẫy quá, nhưng Đức Giê-su muốn chúng ta khi nhìn bông huệ, thì đừng quên rằng những tay thợ lành nghề nhất của Pa-ri cũng không mặc đẹp cho minh tinh màn bạc bằng Cha trên trời mặc cho thứ hoa cỏ ngoài đồng, hôm nay còn, ngày mai đã quẳng vào bếp (Mt 6,30).
Từ Lời Chúa đến những câu chuyện thời sự
Lời Chúa mời gọi chúng ta đưa mắt nhìn dưới ánh sáng đức tin, không chỉ cảnh vật thiên nhiên như những bông hoa hay những cánh chim, nhưng còn là những con người, những sự kiện mà Đức Giáo Hoàng Gio-an XXIII đã gọi là “dấu chỉ của thời đại".
Xuân của Đảng
Chắc hẳn vì Đại Hội Đảng lần thứ XI diễn ra 3 tuần lễ trước Tết Nguyên Đán, nên cả tháng nay rồi, trên đường phố cũng như dọc theo quốc lộ, đi đến đâu cũng toàn màu đỏ : nào là cờ đỏ sao vàng, nào là cờ búa liềm, và đủ thứ khẩu hiệu, trong đó có “Mừng Đảng, mừng Xuân !” Thì ra mùa Xuân đã đến, nhưng trước hết và trên hết mọi sự, đây là mùa Xuân của Đảng Cộng Sản Việt Nam, năm nay 81 tuổi. Đến giờ này Đảng vẫn kiên quyết đi theo chủ nghĩa Mác – Lê-nin, một chủ nghĩa đã bị bỏ vào thùng rác tại chính nơi khai sinh ra nó là Liên Xô hơn 20 năm nay rồi. Đã thế, Đảng Cộng Sản Việt Nam còn kiên quyết đi theo định hướng xã hội chủ nghĩa, mà nếu hỏi : nó ở đâu, nó là cái gì, mặt mũi nó ra làm sao, thì chính các đảng viên cũng không ai trả lời nổi.
Những cành hoa giả
Lúc này trên đường phố, hoa giả được bày bán khắp nơi, từ xa trông thật đẹp mắt, nhưng đến gần thì hoá ra là đồ giả. Mà đồ giả thì ở đâu cũng có. Bất chấp những báo cáo lạc quan về tăng trưởng kinh tế, cứ hỏi những người từ những vùng quê nghèo ở miền Bắc, miền Trung vào Sài Gòn làm công nhân, sau một năm làm việc cật lực, cuối năm đem về cho gia đình được bao nhiêu. Hay những người nông dân quanh năm lam lũ, thấy giá lúa cao lên cũng không mừng, vì tiền chỉ vào túi những đại lý thu mua. Hay những ngư dân vay tiền đóng tàu đi bắt cá, nay nằm nhà thì chết đói, mà ra khơi thì sợ gặp “tàu lạ”, không bị bắn chìm thì cũng bị bắt. Đối với những người nghèo như vừa nói, hoặc những trường hợp tương tự, vốn chiếm đại đa số trong xã hội, thì tăng trưởng kinh tế chỉ là bông hoa giả.
Hay là chuyện tự do báo chí : có tới 700 tờ báo đủ loại. Nhưng vì báo chỉ nói những chuyện được phép nói, nên nếu đọc báo để tìm những chuyện muốn biết, cần biết, thì không thấy, đem gói xôi thì mất vệ sinh, cuối cùng nói như nhà văn Nguyễn Khải, chỉ để bán ký. Hoá ra tự do báo chí cũng chỉ là một bông hoa giả.
Hoa giả trong đời sống tôn giáo
Trong đời sống tôn giáo hôm nay, hoa giả cũng không thiếu. Đại Hội Dân Chúa cách đây không lâu là một ví dụ. Nhìn vào các thành phần tham dự, cũng như cách tổ chức và diễn tiến của Đại Hội, thì đây là một Đại Hội các quan chức nhằm áp đặt lên Dân Chúa một đường lối, một hướng đi, hơn là để cho Dân Chúa có cơ hội gặp nhau, cùng nhau cầu nguyện, suy nghĩ, trao đổi, để tìm cho ra ý Chúa mà thực hiện. Thế thì Đại Hội Dân Chúa cũng là một bông hoa giả.
Mới đây nhất là Đại Hội La Vang diễn ra với đầy đủ phong cách của một lễ hội rầm rộ, hoành tráng, nhưng đâu phải vì vậy mà ta được phép quên những gì đã diễn ra tại Toà Khâm Sứ, Thái Hà, Loan Lý, Tam Toà, Đồng Chiêm, Thái Nguyên, Cồn Dầu… Cảnh ông Nguyễn Thiện Nhân, Phó Thủ Tướng Chính Phủ gặp gỡ các giám mục, tay bắt mặt mừng, có thể làm ta nghĩ rằng tương quan giữa Giáo Hội Công Giáo và Nhà Nước Cộng Sản tốt đẹp hơn lên. Nhưng đúng 3 tuần sau, khi đài truyền hình trung ương phát đi cảnh phái đoàn Toà Tổng Giám Mục Hà Nội đến chúc tết Ban Dân Vận Trung Ương thì phát thanh viên giới thiệu một cách hết sức xách mé rằng : “Đoàn đại diện HĐGM/VN do Phê-rô Nguyễn Văn Nhơn dẫn đầu đến thăm Uỷ ban Dân Vận Trung Ương”… rồi sau đó tiếp tục : “thay mặt cho Tổng Giáo Phận Hà Nội, Phê-rô Nguyễn Văn Nhơn bày tỏ…” Cách gọi vị đứng đầu Tổng Giáo Phận Hà Nội và HĐGM/VN cho thấy một cách công khai vị lãnh đạo cao cấp nhất của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam bị truyền thông Nhà Nước đối xử như thế nào. Hoá ra mối tương quan giữa các quan chức đạo-đời ở La Vang cũng là một bông hoa giả.
May thay, không chỉ có hoa giả
Vào những ngày cuối năm Canh Dần, truyền thông lề phải nói rất ít về những gì đang xảy ra tại Tunisia từ hơn một tháng nay. Chuyện bắt đầu từ anh sinh viên nghèo 26 tuổi Mohamed Bouazizi, bán hàng rong trên đường phố, nhưng bị cảnh sát tịch thu cả gánh hàng. Buồn bực và vô vọng vì vốn liếng duy nhất mà anh có được để làm kế sinh nhai đã bị cảnh sát tịch thu, anh quyết định phản kháng bằng cách biến mình thành ngọn đuốc sống. Cái chết thương tâm, vô vọng của anh đã làm bùng lên ngọn lửa từ lâu âm ỉ trong xã hội Tunisia nghèo đói, đầy dẫy bất công. Hàng ngàn người tham dự tang lễ của anh và chính cảm xúc của họ đã biến tang lễ thành cuộc biểu tình tuần hành rồi nhân rộng lên khắp cả nước. Sau 23 năm cầm quyền, và chỉ sau 1 tháng dân chúng kéo nhau xuống đường biểu tình, Ben Ali, tổng thống Tunisia đã phải đem vợ con trốn ra nước ngoài.
Nay thì ngọn lửa đã lan tới Ai-cập, đang hoành hành tại thủ đô Cai-rô và nhiều thành phố khác. Vào lúc quân đội tuyên bố không chống lại người biểu tình thì tổng thống 83 tuổi Hosny Mubarack sau 30 năm cầm quyền chắc sẽ cùng chung số phận với tổng thống Ben Ali của Tunisia. Thế thì điều ta đang chứng kiến là hoa tự do, hoa dân chủ, hoa công lý, hoa nhân quyền đang nở nộ ở Bắc Phi và Trung Đông, đang hứa hẹn một giai đoạn mới của lịch sử không còn chỗ cho các chế độ độc tài toàn trị.
Ngay trên đất nước Việt Nam chúng ta
Điều đáng mừng là ngay trên đất nước Việt Nam thân yêu của chúng ta không chỉ có hoa giấy như tôi đã chứng minh. Có điều những bông hoa thật bị che dấu quá kỹ, tuy vẫn có cách tìm ra được. Xin đưa ra một vài ví dụ :
Trước Đại Hội Đảng lần thứ XI vừa qua, đã có một cuộc hội thảo của một số các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu, các vị đã từng là lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà Nước như các ông Đào Công Tiến, nguyên Hiệu Trưởng trường Đại Học Kinh Tế, Nguyễn Trung, nguyên đại sứ Việt Nam tại Thái Lan, giáo sư Trần Phương, tiến sĩ Lê Đăng Doanh, tiến sĩ Lưu Bích Hồ, v.v… Tất cả đều đông thanh khẳng định là song song với cải cách kinh tế, cần thiết phải có cải cách chính trị. Không thể cứ mãi kéo dài tình trạng Đảng đứng trên luật pháp, Đảng thâu tóm mọi quyền trong tay, nhưng lại không chịu trách nhiệm. Dĩ nhiên đây là loại thông tin nhạy cảm, truyền thông Nhà Nước đâu có đề cập tới. Đây đúng là hoa thật, và là hoa hiếm !
Một ví dụ khác. Bị bắt hôm 05-11-2010, từ trong tù, tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ đã gửi một bức thư cho toàn thể đồng bào Việt Nam, trong đó ông long trọng tuyên bố 3 điều :
1. Mọi người Việt Nam chỉ có một Tổ Quốc là Việt Nam, chủ nghĩa xã hội không phải là Tổ Quốc của người Việt Nam.
2. Đa Đảng là con đường duy nhất để thực hiện một nước Việt Nam thật sự dân chủ, giàu mạnh, công bằng và văn minh.
3. Liên minh quân sự với Hoa Kỳ là cấp thiết và quyết định trong việc giữ vững chủ quyền lãnh thổ quốc gia.
Anh chị em thấy đó, thay vì có thái độ ngoan ngoãn, chấp hành nghiêm túc nội quy của trại giam để được khoan hồng, thì tù nhân Cù Huy Hà Vũ đã hiên ngang và can đảm nói lên xác tín của mình với tình yêu nồng nàn đối với tổ quốc. Quả là một bông hoa quý hiếm trên dải đất cằn cỗi hôm nay.
Ví dụ cuối cùng là câu chuyện La Vang. Đây vốn là nơi theo tương truyền Đức Mẹ đã từng hiện ra trong thời kỳ bắt đạo, để an ủi, củng cố niềm tin cho tổ tiên chúng ta gặp gian nan khốn khó. Ấy thế mà tại Đại Hội vừa qua, khi một số anh chị em tìm cách nhắc nhở mọi người đừng quên những anh chị em bị bách hại ở Thái Hà, Đồng Chiêm, Tam Toà, Cồn Dầu, v.v… thì đã bị ban tổ chức mạnh tay ngăn cản không thương tiếc. May thay, đức cha Hoàng Đức Oanh đã có một cử chỉ của người mục tử nhân hậu khi tìm cách gặp gỡ anh chị em Cồn Dầu để nói lời an ủi. Phải chăng đây là một bông hoa lạc loài giữa cái lễ hội đã không còn biết đến ý nghĩa căn bản của linh địa La Vang ?
Kết luận
Chúa Giê-su mời chúng ta xem hoa. Tôi vừa cố gắng chỉ ra những bông hoa giả để đừng ai bị đánh lừa. Nhưng tôi cũng đã chỉ ra những bông hoa thật, thấp thoáng từ xa, rất xa, nhưng đầy hương sắc, hay những bông hoa ẩn khuất sau vách núi cheo leo, tất cả đều mời gọi chúng ta tin vào quyền năng của Thiên Chúa là Đấng làm chủ lịch sử, tin vào tình yêu của Thiên Chúa là Đấng không bỏ rơi bất cứ ai tin Ngài. Xin Ngài ban cho chúng ta một cặp mắt đức tin đủ sáng, đủ mạnh để nhận ra Chúa đang hiện diện và hoạt động trong thế giới hôm nay.
Nhà thờ Phan-xi-cô Đa-kao, 03-02-2011
Mồng Một Tết Tân Mão
Pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh
ofmpascaltinh@gmail.com
Sunday, February 6, 2011
TS Nguyễn Lâm Kim Oanh Và Chương Trình Ngôn Ngữ Chiến Lược Của Mỹ
VanHoaNBLV phỏng vấn Tiến Sĩ Nguyễn Lâm Kim Oanh, Giám Đốc Chương Trình Ngôn Ngữ Chiến Lược Của Hệ Thống Đại Học CSU (Executive Director of the California State University Consortium Strategic Language Initiative) do Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ tài trợ về tầm quan trọng của ngôn ngữ đối với an ninh quốc gia và kinh tế toàn cầu vào ngày 05 tháng 02 năm 2011 tại thành phố Westminster, Nam California, Hoa Kỳ.
Thực hiện video clip: http://noigio.blogspot.com
Tuesday, January 25, 2011
Ngọc Thủy - Hương Mai / Thơ Ngô Đình Vận, Nhạc Lại Minh Thuận
Ca khúc Hương Mai, thơ Ngô Đình Vận, nhạc Lại Minh Thuận. Với tiếng hát Ngọc Thủy. Arranged by Lai Minh Thuan. Recorded and Mixed by Thuan Minh Lai & Van Dinh Ngo. Được trích từ CD Nhạc Tình Xa Xứ II.
Thực hiện video clip http://noigio.blogspot.com
HƯƠNG MAI
Rừng phong rừng trụi lá
Cành trơ với mây mù
Mùa đông trời giá rét
Đường lênh đênh sương mờ.
Rừng thưa rừng ngợp gió
Gió vắng lá chuyện trò
Thổi dài niềm cô độc
Loãng vào miền bao la.
Lưng chừng đồi cỏ uá
Chòm Nghinh Xuân nở hoa
Hoa tươi vàng rạng rỡ
Thoắt nhớ Mai quê nhà.
Như trăm ngàn tình sử
Với muôn điều sót thương
Em vẫn là ảo mộng
Ru nắng mềm Đông Phương.
Rừng xa rừng thương nhớ
Lá rụng vào trăm năm
Lá sẽ về trong nắng
Cỏ hoa thơm núi rừng.
Ở đây là xứ lạ
Đời lạc lõng bơ vơ
Ở đây là quán trọ
Khao khát tình quê xa.
Trong vùng trời cô tịch
Chim gõ kiến kêu vang
Gọi mặt trời thức giấc
Sưởi ấm lòng rừng hoang.
Gọi em thì hoa nở
Nắng hanh vàng nứt da
Dáng em gầy thanh tú
Đón xuân nào thiết tha.
CD NGỌC THUỶ: MỘT HƠI MỚI
RẤT DỄ THƯƠNG TRONG ÂM-NHẠC VN HÔM NAY
...
Trong nỗ lực làm mới nhạc Việt ở hải-ngoại mà lắm lúc tôi tưởng đã là như một bãi sa-mạc, vì ảnh-hưởng quá mạnh của nhạc trẻ Mỹ cũng như là vì ảnh-hưởng của toàn-cầu-hóa (nhằm thỏa mãn một thị-trường "quốc-tế" thay vì VN), hướng đi mới của Ngô Đình Vận với sự tiếp tay của Lại Minh Thuận là một làn gió mát, một hương thơm đến từ quê hương VN ở tận trong cõi lòng và tiềm-thức của chúng ta! Hướng đi này, tôi nghĩ, đầy hứa hẹn... nhất là khi, như nhà tôi đã có dịp nhận-định, nó lại được chuyên chở bằng một giọng ngọt ngào hiếm có, một giọng vừa truyền cảm, dễ thương vừa điêu luyện như của Ngọc Thủy!
Ngọc Thuỷ không chỉ có một giọng trong, trẻ, mà còn luyến láy rất điệu nghệ, lại có những chỗ nhấn mạnh, bỏ nhỏ rất tình, khi nũng nịu, khi giận hờn, khi yêu đương, khi nghịch ngợm rất hợp với thứ nhạc đa dạng và giàu âm điệu này—gần như không có bài nào giống bài nào.
Tóm lại, một sản-phẩm rất đáng yêu để mua vào dịp Tết với 10 bài:
1/ Quan Họ Đi Xa (Piano Nghiêm Phú Phi)
2/ Anh Đi Tìm Bông Lúa
3/ Hương Mai
4/ Phượng Tím
5/ Phương Thu
6/ Anh Đi Tìm Bông Lúa (Piano Nghiêm Phú Phi)
7/ Chích Choè
8/ Trời Tương Tư
9/ Sao Mai
10/ Chuồn Chuồn
Những bài có ghi "Piano Nghiêm Phú Phi" là Ngọc Thuỷ được đặc-biệt nhạc-sư và danh-cầm Nghiêm Phú Phi, nguyên Giám-đốc Trường Quốc Gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ Sài Gòn, đánh đệm cho một cách rất lả lướt chỉ ít lâu trước khi ông mất. Tưởng cũng cần nhắc, trong một đời dành cho âm-nhạc, nhạc-sĩ Nghiêm Phú Phi đã từng viết nhạc đệm cho hơn 1000 bài tân-nhạc VN như trong nhiều bài mà ta nghe rất quen thuộc.
Nhìn vào bìa sau của CD "Nhạc Tình Xa Xứ," ta không khỏi gặp một sự bất ngờ thú vị: Tổng-phát-hành cho CD này là Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông Hoa Kỳ (ĐT: 703 525-4538, E-mail: canhnam@dc.net), một cơ-sở xuất bản sách đã có mặt ở vùng Thủ-đô từ hơn 1/4 thế-kỷ nay. Và đây hình như là cái CD nhạc đầu tiên do Tổ Hợp phát hành.
Nguyễn Ngọc Bích
Viết xong đêm mồng 4/I/2011
Khu Đồng Xuân
Bang Trinh Nữ, Hoa Kỳ Quốc
Nguyễn Ngọc Bích - Một Chuyến Đi Âu-Châu Cách Đây Gần Nửa Thế-Kỷ
CHUYỆN HAI ANH “TA BA-LÔ”HAY LÀ TỪ ÁO QUA Ý VỀ PHÁP CÁCH ĐÂY GẦN NỬA THẾ-KỶ
Nguyễn Ngọc Bích
Gần đây, được đọc một bài “Quà Giáng Sinh” của anh Nguyễn Tường Tâm thật dễ thương về hiện-tượng “Tây Ba Lô” ở trên thế-giới, một hiện-tượng bị hiểu lầm khá phổ-biến ở VN hôm nay, tôi không khỏi nhớ đến những ngày lang thang thời sinh-viên của mình.
Vốn là cách đây đã gần 50 năm, vào năm 1962, tôi được một cái học-bổng khá lớn để đi Nhật học và thu thập tài-liệu cho một luận-án tiến-sĩ của tôi về văn-học Nhật-bản thời trung-đại (Đề-tài luận-án của tôi hồi đó được quyết-định là viết về Takamura Monogatari, một truyện tình giữa hai anh em nhà Takamura—hơi loạn-luân nhưng rất hiện-đại—có từ mạt-thời Heian [Bình-an] vào thế-kỷ XII).
Trên đường đi Nhật từ Mỹ, tôi ghé qua Pháp thăm một số bạn bè và họ hàng, sau đó sang Đức (Đại-học Munich) rồi đi Áo (Đại-học Vienna) để trau dồi thêm tiếng Đức và học về “Vergleichende Literatur” (Văn-học tỷ giảo Âu-châu).
Cité Universitaire
Chặng đầu không có vấn-đề gì vì mọi sự đã được thu xếp từ Mỹ, từ vé máy bay đi các nước đến tiền ghi danh, đóng học-phí và tiền ăn ở cho hai đại-học München (= Munich) ở Đức và Wien (= Vienna) ở Áo.
Đặt chân tới Pháp, tôi không ngỡ ngàng gì vì tôi học trường Pháp từ nhỏ ở trong nước nên không đến nỗi ngọng, tự mình xoay sở được vì người ta đã có châm-ngôn “Đường đi nước bước là ở miệng mình,” ngụ ý là cái gì không biết thì nếu có miệng cũng hỏi ra được. Đến Pháp, cảm-tưởng nổi bật nhất của tôi là như về nhà đối với một người Tây-học như tôi: Đi đâu tôi cũng nhận ra những hình ảnh thân quen, nào là Arc de Triomphe (“Khải-hoàn-môn”) trên đường Champs Elysées đến Tour Eiffel rồi Panthéon, Sorbonne (tức Đại-học Paris), nhà thờ Notre Dame… Vào bảo-tàng-viện Louvre cũng thấy không lạ lẫm gì với những hình ảnh nổi tiếng như tranh Madonna cười mỉm chi của Leonardo da Vinci (mà khi học trong sách Pháp được biết dưới tên Pháp-hóa là Léonard de Vinci) hay bức tượng Pietà nổi tiếng của Michelangelo, những tranh của Courbet (“L’Enterrement à Ornans,” Chôn cất ở Ornans), Millet (“Le Semeur,” Người Gieo Hạt, “Les Glaneuses,” Những Người Mót Lúa) hoặc các tượng “Người ném đĩa” (“Le Discobole”), Vénus de Milo của Hy Lạp dù như sự hiểu biết của tôi hồi đó về mỹ-thuật Tây-phương chưa thể nói là phong phú gì v.v. Sở dĩ vậy là vì tôi đã từng được xem đi xem lại những tranh tượng đó trong sách giáo-khoa ở Trung-học ngày tôi còn ngồi mòn đũng quần ở Lycée Chasseloup-Laubat ở Sài-gòn. Tóm lại, cứ như về quê vậy!
Chuyện ở Pháp thì còn nhiều, tuy-nhiên vì có quá nhiều người Việt biết chuyện ở xứ này rồi nên có lẽ tôi chỉ xin kể đôi ba chuyện vặt vãnh thêm thôi. Thuở đó, không ai là không biết những bài thơ Cung Trầm Tưởng được Phạm Duy phổ nhạc. Do đó nên tôi cũng phải mò đến vài nơi để xem “ga Lyon đèn vàng” là như thế nào, “vườn Luxembourg” ra làm sao mà lắm người mê dù như tôi không hề có “người em tóc đỏ” nào để mà hôn, để mà “đền em một tháng trời gần / đơm hoa kết mộng cũng ngần ấy thôi…”
Nhưng đến những nơi như ga Lyon, “Gare du Nord” hay là vùng Les Halles nổi tiếng anh chị cũng là để được nghe về những chuyện mà ta có thể gọi được là chuyện dã-sử của người An-nam-mít ở Pháp. Tỷ như chuyện An-nam ta đánh nhau với Rệp, rồi để trị Rệp một lần cho chót (“une fois pour toutes”) An-nam ta cũng bắt một anh Rệp đầu têu, đem về rạch bụng anh ta, lôi ruột anh ta ra rồi cho anh ta ôm ruột rà về nhà. Chết thì không chết nhưng sau đó không thấy Rệp nào dám gây sự với Mít nữa. (Đúng ra những chuyện như thế này, tôi không nên kể trong thời-đại “politically correct” như ngày hôm nay, nhưng thôi, đã nói là hồi-ký thì những ký-ức như thế này chỉ là có trên giấy mà thôi—làm gì có chuyện thật như thế, tôi không hề được chứng-kiến mấy chuyện đó.)
Hoặc về sau tôi cũng được biết là trong nghề “strip tease” (“chuổng cời giỡn”) của VN ta ở Pháp có một cô đào rất nổi tiếng, bí-danh “Chonamquan” (“Chợ Nam-quan”?), đặc-biệt được các đấng mày râu tây và ta thích lắm, nhất là màn múa quạt của cô ta, khi hở khi kín dùng quạt để “che chỗ đó”! “Chonamquan” đưa điệu múa quạt của mình lên đến trình độ nghệ-thuật nên về sau hình của cô được in thành một cuốn sách nhỏ trong sưu-tập “La métaphysique du strip-tease” (“Hình-nhi-thượng-học về màn chuổng cời giỡn”). Xong cũng vì có nghề này mà bên cạnh đó lại còn có một nghề lạ nữa, dành riêng cho đàn ông, mà tôi không được quyền nói ra ở đây (sợ trẻ vị thành-niên mà đọc lén thấy thì rất bất tiện cho tôi, một người mang danh nhà giáo).
Thời-gian này, tôi không đến nỗi phải ngủ bụi, ngủ bờ ở Paris vì đã có sẵn mấy cháu họ và vài người bạn ở Maison de l’Indochine trong Cité Universitaire mà tôi có thể đến ngủ trọ, ngủ ké được. Ăn cũng ăn cơm trợ cấp ở trong nhà ăn của Cité mặc dù tôi không là sinh-viên ở Pháp lúc bấy giờ (nhưng các anh em bạn lúc nào cũng sẵn cung-cấp cho ticket). Còn nếu ra tỉnh thì cũng có thể ghé qua tiệm cơm ở đường Monges (có Sứ-quán trợ cấp) ở Quận 5, Quartier Latin của sinh-viên. Tóm lại, tôi hội-nhập khá dễ dàng với các sinh-viên VN đi học ở Pháp hồi đó, không có gì xa cách cả.
Duy chỉ có một lần đang ở Maison de l’Indochine, tôi bỗng thấy một cặp Việt-Âu khá đẹp đôi đi vào. Anh ta nhỏ con thôi, lùn nữa là khác nhưng trông khá tuấn tú còn cô bạn anh rất xinh nhưng cũng nhỏ con như anh. Họ đến gần tôi mới biết là họ không nói tiếng Pháp với nhau mà lại nói tiếng Đức. Không hiểu sao, tôi lại lân la làm quen được. Nhưng chỉ sau vài câu trao đổi là tôi đã bị thách thức. Biết tôi ở Mỹ sang lại còn nói chuyện triết-học hiện-sinh, anh liền quay ra “quay” tôi đến nơi đến chốn: “Anh hiểu thế nào là hiện-sinh? Tại sao buồn nôn? v.v.” Làm tôi cũng hơi bối rối. Hồi còn học ở Philo, tức chuẩn-bị cho Tú-tài đôi ở Sài-gòn, tôi cũng được ông thầy Pierre Ansart nói sơ qua về thuyết hiện-sinh thời-thượng ở Pháp thời bấy giờ, nào là Sartre, Camus bên cạnh những Merleau-Ponty, Emmanuel Mounier v.v. Nhưng chỉ là thoáng qua thôi, đâu đã được đọc gì từ nguyên-bản đâu. Sang Mỹ, ở Princeton, những giờ rảnh rỗi ngoài giờ học cật-lực cho các môn chính, tôi thỉnh thoảng cũng vào thư-viện lấy sách tiếng Pháp đọc, những tiểu-thuyết thời-thượng như Bonjour Tristesse của Françoise Sagan hay L’étranger của Camus còn L’Etre et le Néant của Sartre thì chỉ cầm lên, đọc vài trang là bỏ xuống liền. Nghĩa là rất “spotty,” không quy-củ gì cả! Do đó khi gặp câu hỏi của anh bạn kia, tôi không khỏi bối rối. Nhưng không lẽ ngậm miệng, cụp đuôi nên cuối cùng tôi cũng cố gắng trả lời được anh, trình bầy vấn-để, đưa được ra ý-kiến của mình mà có lẽ cũng không đến nỗi tệ lắm (tôi không cho chủ-nghĩa hiện-sinh là một triết-lý đầy đủ mà xem đó chỉ là một thái-độ sống thôi). Chúng tôi chia tay sau đó và ấn-tượng của tôi là sao lại có thể có một cặp đẹp đôi như vậy. (Nhiều năm sau, tôi nghĩ lại, có thể đó đã là anh Võ Văn Ái và cô bồ Đức của anh, nhất là sau này tôi được biết là anh có một thời-gian đi học ở Đức và lại học đúng ngành triết.)
“Bist du Japaner?”
Tôi thích văn thơ từ nhỏ nên khi sang Mỹ, hễ có dịp là tôi đi làm một ông đại-sứ con về văn-minh, văn-hóa hay lịch-sử VN. Song vì tài-liệu không có sẵn bao nhiêu nên tôi thường phải dịch văn, và nhất là thơ, VN sang tiếng Anh trước khi đi trình bầy. Chẳng mấy lúc, tôi có một tập thơ dịch nho nhỏ để khi cần thì lôi ra, vừa ngâm vừa đọc, cho Mỹ “sợ chơi.” Không chỉ dịch thơ từ tiếng Việt sang tiếng Anh, nhất là thơ Thế Lữ mà tôi mê từ lúc mới 5-6 tuổi, tôi còn thích dịch thơ ngoại-quốc sang tiếng Việt nữa—trước hết là để kiểm-soát trình-độ ngoại-ngữ của mình, hai là để thử tài dịch của mình và ba là để… khỏi quên tiếng Việt. Nhưng tôi tự hẹn là nhất định không dịch thơ Pháp, thơ Mỹ, thơ Anh và nhất là thơ Tàu. Tại sao? Tại vì, theo lối suy nghĩ của tôi hồi đó, ở VN có quá nhiều người giỏi hay ít nhất cũng có khả-năng dịch mấy thứ tiếng đó rồi. Tại sao phải đi dịch thêm một bài như “Nguyệt lạc, ô đề sương mãn thiên” (“Phong-kiều dạ-bạc” của Trương Kế) trong khi có hàng chục người đã thử tài vào đó rồi, với những bản dịch thật hay như của Trần Trọng Kim hay Tản Đà rồi? Do đó mà tôi đi học tiếng Đức, rồi về sau, tiếng Nhật, để mong giới-thiệu những nền văn-minh và văn thơ mà ở VN chưa mấy người biết đến.
Đó là lý-do tại sao những ngày ở Princeton, tôi đi học tiếng Đức, thường vào lúc 7 giờ sáng, trời rét (mùa Đông) căm căm mà vẫn phải dậy lết đến lớp. Nhưng một điều lạ tôi khám-phá ra, đó là chính vì phải dậy sớm nên đầu óc minh mẫn, chưa có “thức ăn” gì khác ở trong đầu nên học (sinh-ngữ) rất dễ vô.
Đó cũng là lý-do tại sao tôi lại tìm cách mò sang Đức để học thêm tiếng Đức. Những ngày ở Munich của tôi là những ngày thần tiên. Thần tiên vì vào một môi-trường ngôn ngữ mới, mình không có chọn lựa nào khác ngoài việc phải nói tiếng Đức suốt ngày. Thần tiên vì là một sinh-viên ngoại-quốc, mình gặp rất nhiều bạn cũng đến từ các nước khác, đến để học tiếng Đức nên đồng cảnh-ngộ, rất dễ thông-cảm với nhau. Tỷ như ở Đức thì ngày đêm sáng tối, bữa cơm nào cũng có “Kartoffel” (“khoai tây”) cả. Ăn một hai bữa thì vui, ăn ngày này qua ngày khác thì bắt đầu chán và hết vui. Thậm chí có một hôm anh bạn người Ý của tôi giơ tay lên trời than: “Tao không hiểu trước khi ông Columbus sang Mỹ-châu đem khoai tây về thì người dân xứ này ăn cái quái gì?”
Thần tiên nữa là vì cái gì đối với mình cũng mới. Sản-phẩm của một nền giáo-dục Pháp-Mỹ và VN, tôi xa lạ với lịch-sử và truyền-thống Germanic mà nước Đức là tiêu-biểu. Có sang học ở Đức mới biết người Đức tự xem mình là trung-tâm của Âu-châu, là gạch nối giữa Đông (tức Nga cộng Đông-Âu) và Tây (tức Pháp, Anh, Bỉ, Hòa-lan) cũng như giữa Bắc-Âu và các nước La-tinh như Ý, Y-pha-nho, Bồ-đào-nha. Do đó, họ tự-hào là những người hiểu biết hết cả Đông-Tây-Nam-Bắc và họ hãnh-diện về những tác-phẩm dịch của họ. Họ cho rằng Shakespeare dịch sang tiếng Đức bởi August Wilhelm von Schlegel có khi còn hay hơn cả nguyên-bản nữa, tiểu-thuyết và thơ Nga dịch sang tiếng Đức cũng vậy và rằng họ hiểu mỹ-thuật Ý, mỹ-thuật Hy-lạp còn hơn cả người bản-xứ. (Tuy-nhiên, anh bạn Ý của tôi thì cho rằng khi gặp mấy người Đức mà vỗ ngực, khoe khoang như thế thì người Ý lại có cách trả lời rất thích hợp. Họ chả cãi lại làm chi, chỉ cần chụm năm đầu ngón tay lại vẫy vẫy mấy cái là xong, có nghĩa là: “Thôi đi bồ, bịp vừa phải thôi chứ!”) Mặt khác, nó cũng có điều gì không hoàn-toàn sai trong cái tự-hào đó của người Đức: Ta hãy thử xem mấy bản dịch thơ Tàu sang tiếng Đức, có bài tuyệt diệu, hay thơ Ba-tư của Hafiz (thế-kỷ XIV) do Goethe chuyển ngữ sang tiếng nước ông, ta sẽ thấy liền là họ không ngoa. Hoặc nếu ta biết là anh em Schlegel đóng một vai trò then chốt trong việc dựng ra ngành Ấn-độ-học ở Đức thì ta chắc cũng phải khâm phục cái học-thuật của Đức, nhất là về ngành ngôn-ngữ-học lịch-sử, trong thế-kỷ XIX. (Một chi-tiết đáng nhắc: Trương Vĩnh Ký là người Việt độc-nhất được một bộ bách khoa từ-điển của Đức công-nhận ngay từ hồi đó, từ cuối thế-kỷ XIX, là một nhà thông thái—un savant--của nhân-loại.)
Chính trong cái không-khí dịch-thuật được đề cao đó mà tôi nổi hứng dịch tập thơ Hebraische Gesänge (“Những bài ca Do-thái”) của Else Lasker-Schüler, một nữ-thi-sĩ thật trong sáng và tuyệt diệu, sang tiếng Anh (Rất tiếc là năm 75 khi chạy khỏi VN, tôi đã để mất tập thơ này). Kể cũng lạ, hồi đó ở Mỹ thì tôi là sinh-viên ngoại-quốc nhưng sang Đức người ta lại coi tôi là sinh-viên (cũng “ngoại-quốc” nhưng đến từ) Mỹ thành thử trong những buổi họp mặt văn nghệ, nhiều khi tôi lại bị các bạn học Mỹ đẩy tôi ra hát dân-ca Mỹ như “Old Man River,” “Jamaica Farewell” hay cả “Summertime” (trong nhạc-kịch Porgy and Bess của Gershwin), đại diện cho nhóm ở Mỹ. Đó có lẽ là một trong những biểu-hiện sớm nhất trong kinh-nghiệm của tôi về hiện-tượng “globalization” (“toàn-cầu-hóa”) trong đó những tính-cách dân-tộc bị hòa lẫn vào trong một thế-giới không còn phân-biệt ranh giới rõ ràng nữa.
Thần tiên nữa là ở đây, tôi được học về văn-minh, văn-hóa Đức. Được học về Expressionismus (“Biểu-hiện chủ-nghĩa”), Die Blaue Reiter (Nhóm hội-họa “Những người kỵ mã xanh”), v.v. trong các phong trào hội-họa cận-hiện-đại ở Đức trong thập niên 1930 (về sau bị Hitler coi là “rác rưởi”), nhân đó đi thăm các bảo-tàng-viện như Alte Pinakothek v.v.
Thần tiên không kém là những lần đi núi. Theo họ trèo lên đến đỉnh núi mấy nghìn thước, trời lạnh buốt dù là đang hè, họ vẫn rủ nhau cởi trần truồng ra xuống suối tắm, mình đi theo cũng đành phải “nhập gia tùy tục” đứng ngay dưới chỗ nước đá vừa tan xong mà tắm. Đến khi dùng cái gì, như cái kẹo chẳng hạn, mà vất giấy bọc kẹo xuống đất là người hướng dẫn bắt phải lồm cồm bò xuống núi lượm lại, rồi lấy dao đào một cái hố chôn xuống đó chứ không được quyền xả rác ở trên núi. Trên đường về, đi qua các làng ở vùng Bayern (Bavaria) trong mùi cứt bò ấm áp thấy mấy ngôi nhà xinh xinh, ngăn nắp (Đức mà!) với kiểu đặc-thù ở vùng này: ngoài nhà có gắn những thanh gỗ chéo và ở ban-công thường có mấy chậu hoa nở đủ màu.
Thần tiên cuối cùng là nhiều khi ở trong tỉnh, chiều đến đi chơi với các bạn vào các “biergarten” (“vườn bán/uống bia,” nghĩa là rất lớn chứ không phải chỉ là một tiệm nhỏ con con), gặp con gái Đức chúng hỏi: “Bist du Japaner?” (“Anh có phải là Nhật không?”) vì sau Thế-chiến II, người Đức vẫn còn rất thân thiện với người Nhật trong các giống Á-đông bởi họ là đồng-minh trong chiến-tranh và cũng cùng thua Mỹ. Khi mình trả lời: “Nein, nein. Ich bin kein Japaner, ich bin Vietnamesischer.” Họ vẫn bảo: “Das macht nicht.” (“Không sao!”) rồi gọi tôi lại, cho ngồi trên đùi (bởi hồi đó tôi còn khá nhỏ con), mời uống bia. Bia đen, bia vàng, đủ cả! Khổ nỗi, tôi tửu-lượng rất kém nên chỉ uống được vài hụm đã sặc sụa.
Nhưng vui nhất là đang khi uống, thỉnh thoảng họ lại khóa tay mình lại nơi khuỷu tay, rung rinh cả bày đưa người sang bên trái, đưa người sang bên phải rồi hát những bài rượu như: “In München stet’s ein Hofbräuhaus, ein, zwei Süffel” (“Ở Munich có một tửu-đường trong cung, với một, hai anh bí tỉ”)
Song bên cạnh cái vui cũng có cái buồn, cái ngậm ngùi. Chính vì đến Munich nên tôi mới được nghe và biết tường-tận hơn về lịch-sử phong trào Đức Quốc-xã thời Hitler. “Kristallnacht”—Đêm nhóm Nazi đi đập phá các cơ-sở của người Do-thái—là bắt đầu từ đây, khai màn cho sự đi lùng bắt Do-thái trên khắp nước dẫn đến biết bao sự kỳ-thị, bất công… và cuối cùng dẫn đến cả những lò thiêu hàng triệu người Do-thái sau đó (ở Dachau, Buchenwald, Auschwitz hay còn gọi là Oswiencim trong tiếng Ba-lan, v.v.). Sau chiến-tranh, một sự công-bằng nào đó đã được tái-lập qua các phiên tòa xử các tội-đồ giết người Do-thái, vì “tội ác chiến-tranh” (“war crimes”) hay còn gọi là “trọng-tội chống lại nhân-loại” (“crimes against humanity”), ở Nürnberg (Nuremberg) không xa Munich bao xa.
Nhưng cũng ở đây lại vươn lên hy-vọng. Vì trong cuộc chiến, Munich bị bom tàn phá đến gần như không còn một viên gạch. Nhưng sau khi hòa-bình lập lại, chính người dân Munich lại đi lượm lại từng viên đá, từng cục gạch vỡ vụn ra để xây dựng lại những di-tích thành cổ hay nhà thờ theo đúng mẫu kiến-trúc xưa.
Ở nhà xưa của Beethoven
Sau Munich, tôi đi sang Áo học thêm ở Universität Wien, lấy một khóa tiếng Đức cao-cấp ở Đại-học Vienna. Ở đây, tôi được chỉ-định đến ở số nhà 7 Trautsohngasse, không xa Đại-học mấy, đi bộ được. Đến nơi mới khám-phá ra rằng đây là một địa-chỉ ngày xưa nhạc-sĩ lừng danh Beethoven đã từng ở, nên ngoài cửa có tấm bảng đồng đen ghi lại như một di-tích lịch-sử của xứ này. Bây giờ căn nhà cổ xưa này đã thành một căn nhà trọ do một đôi vợ chồng già lo và chia các phòng ra cho sinh-viên ở. Tôi do đó cũng được một phòng, ở cạnh một sinh-viên Pháp, cháu gọi George Taboulet, tác-giả cuốn sách nổi tiếng La geste française en Indochine (“Sự-nghiệp oanh-liệt của Pháp ở Đông-dương”), bằng cậu hay chú gì đó. Ở gần nhau, chúng tôi nói tiếng Pháp với nhau, và tôi chỉ còn nhớ được một nhận-định khá sắc sảo của anh: “La France et le Vietnam, nous sommes comme un couple divorcé. On n’est plus ensemble mais on ne s’oublie pas.” (“Pháp với VN, mình như một đôi vợ chồng ly dị, mình không còn ở với nhau nữa nhưng quên thì không quên được.”) Còn bà chủ nhà thì khi nói chuyện với tôi, thấy tôi biết nhiều. lại còn nói tiếng Pháp, tiếng Đức bên cạnh tiếng Anh nữa nên có một hôm bà khen tôi: “Sie sind ein echte Weltbürger” (“Ông đúng là một công-dân thế-giới thứ thiệt”). Ở tuổi 25 mà đã được khen như thế, phải nói thật là tôi cũng hơi nở mũi.
Ở đây, tôi cũng gặp nhiều bạn đến từ nhiều quốc gia. Xinh nhất và dễ thương nhất, và có lẽ cũng có cảm-tình với tôi, là một cô Ba-lan chừng 18-20 thôi. Mặc dầu cô đến từ một nước Cộng-sản (lúc bấy giờ Ba-lan còn CS) nhưng khi nói chuyện với tôi, cô ít khi mang chuyện chính-trị vào. Duy chỉ có một lần cô buột miệng hỏi tôi về Hồ Chí Minh. Được dịp, tôi tuôn ra một tràng tố-cáo ông ta. Sau đó, chúng tôi vẫn chuyện trò với nhau nhưng có vẻ cô cũng hơi dè dặt một chút.
Ở Vienna, tôi cũng rất thích. Phần vì hồi đó tôi còn đang ở trong tình-trạng muốn được biết tối-đa về ngôn ngữ và văn-minh, văn-hóa Đức (Áo cũng nói tiếng Đức và nằm trong khu-vực văn-hóa Đức). Nên ngoài giờ học, tôi chịu khó đi lang thang thám hiểm các nơi chung quanh cái thành phố đã có hồi làm thủ-đô lẫy lừng của một đế-quốc mang tên Đế-quốc Áo-Hung (Austro-Hungarian Empire) dưới thời triều-đại Habsburg. Vienna cũng có vinh-dự là thành-phố đã hai lần chặn sự tiến-công của Hồi-giáo (1529 và 1689) tìm cách tràn sang Âu-châu, cũng tương-tự như Đại-Việt dưới đời nhà Trần ba lần chặn bước tiến của Mông-cổ xuống Đông-Nam-Á vậy.
Song ta cũng không nên quên: Hitler chính là người Áo, gốc gác là một anh họa-sĩ không mấy thành công nên đổ hết hận thù vào một giống dân khác, người Do-thái, như anh ta viết trong tiểu-sử/tuyên-ngôn của anh, cuốn sách mang tên Mein Kampf (“Cuộc chiến-đấu của tôi”). Với một ý-chí sắt đá và với sự tiếp tay của những bộ-hạ chỉ biết mù quáng làm theo chỉ-thị, khiếp đảm trước cái oai-phong của tên thượng-sĩ chủ mình, Hitler đã lên nắm được (hay đúng hơn là “cướp được”) chính-quyền được ở Đức để rồi đem sáp-nhập quê hương của mình vào với Đức (qua một biến-cố gọi là “Anschluss”), thực-hiện cái mộng ngàn đời của dân Teutonic muốn được thấy cả khối thống nhất trong một quốc gia, dưới một chính-quyền mạnh. (Đây cũng là giấc mơ mà Hà-nội đã bán cho dân-chúng VN, để chúng ta điêu đứng như ngày nay.) Sau Thế-chiến II, Áo cũng như Đức bị chia ra làm bốn khu-vực dưới quyền kiểm-soát của bốn cường-quốc: Anh, Pháp, Mỹ, Nga. Bên phía các đồng-minh thì chả bao lâu, họ cho chính-quyền Áo được cai quản trở lại nhưng phải đến nhiều năm sau, trước khi tôi sang Áo một chút, Nga mới chịu trả lại cho Áo chủ-quyền trên khu-vực Nga chiếm đóng sau khi buộc Áo phải cam-kết trung-lập—một cái giá cũng không đến nỗi quá đắt cho nền độc-lập, thống nhất và chủ-quyền của một quốc gia. Nhưng vì khu Nga quản-trị cũng mới về trong tay của người Áo nên tôi cũng có dịp thỉnh thoảng đi sang khu Nga chiếm đóng trước đó để thấy: chỉ trong vòng có chừng 15 năm (từ 1945 đến 1960) mà cả khu đã xập xệ so với khu các cường-quốc Tây-phương (Mỹ, Anh, Pháp) cai quản.
Vienna là một thành phố đầy ắp lịch-sử. Lịch-sử âm-nhạc đã đành với những tên tuổi như Mozart (mà trong tiếng Đức đọc là “Mô-txác-t” chứ không phải “Mô-da” như ta quen đọc theo tiếng Pháp), Beethoven, Schubert, Franz Lehar (tác-giả The Merry Widow), Strauss v.v. Ở ngay giữa Công-viên Thành phố (Stadtpark) có tượng Mozart và tượng Schubert, tượng Richard Strauss, tác-giả của bài valse bất hủ The Blue Danube (“Dòng sông xanh,” lời Việt của Phạm Duy mà Thái Thanh cũng đã từng gởi lên không-trung trong một giọng hát cao vút, “vượt thời-gian”).
Nhưng đến Vienna cũng là để thất vọng khi ra xem “dòng sông xanh.” Không hiểu thời Strauss, sông Donau (tên tiếng Đức của sông Danube) có xanh thật không chứ hồi tôi đi học ở Vienna (và cả về sau này khi tôi trở lại hơn một lần ở Vienna), dòng Donau (đọc “Đô-nao”) đã hết xanh từ lâu rồi. Nước đục ngầu, chuyên chở nhiều phù-sa nên hơi giống nước sông Seine ở Paris, và nhiều chỗ nước cống hay nước thải (của các nhà máy gần đó) còn đổ ra nên còn hôi thối nữa là khác. (Năm sau sang Nhật, tôi cũng thấy hiện-tượng ô-nhiễm môi-trường này trong những con sông ở Nhật, như ở Osaka, chẳng hạn, làm cho một tiếng chuông đầu cảnh cáo về vấn-đề này, cuốn Silent Spring của Rachel Carson, viết từ đầu thập niên 1950, đã trở nên một tiếng nói tiên-tri.)
Nhưng bỏ ra ngoài một vài kỷ-niệm bất ưng đó, Vienna là một thành-phố có rất nhiều di-tích lịch-sử để xem. Cung vua của triều-đại Habsburg đã hẳn, trong đó có nhà nuôi, chăn và huấn luyện ngựa Lippizzaner nổi tiếng khắp thế-giới, chưa kể đến các bảo-tàng-viện (Albertina Museum) và Vienna Choir Boys, ban đồng-ca nhi-đồng của nhà thờ lớn Stephansdom (St. Stephen’s Cathedral), với những giọng hát thiên-thần. Đi ra ngoài thành phố một chút cũng có những lâu-đài thật đáng xem như Schőnbrunn, được coi như cạnh-tranh với Versailles của Pháp.
Còn ở thành phố thì chỉ cần đi lang thang chung quanh vùng Ringstrasse (“Đường Vòng”) là đủ hết ngày này qua ngày khác một cách rất thích thú. Và hiển-nhiên, ta cũng không thể quên được những tiệm bánh (“die Konditorei”) ngon tuyệt trần-gian (“out of this world”) của đất thần-kinh này.
Cuối khóa học, tôi hẹn ông anh tôi, lúc bấy giờ đang làm ở Ban Việt-ngữ Đài BBC, sang chơi với tôi để hai anh em đánh một vòng sang Ý trước khi về Pháp. Không ngờ đây là mở đầu cho một giai-đoạn hai anh em chúng tôi trở nên “tây (hay nói đúng hơn là ‘ta’) ba-lô” bất đắc dĩ trong một chuyến đi để đời, ngủ bụi ngủ bờ trong một chuyến mạo-hiểm không tính trước qua ba nước. Song đó sẽ là đề-tài của bài sau, xin hạ-hồi phân giải.
Nguyễn Ngọc Bích
Viết xong trong hai ngày 26 và 27/XII/2010
Khu Đồng Xuân
Bang Trinh Nữ, Hoa Kỳ Quốc
Nguyễn Ngọc Bích - Từ Áo Qua Ý Về Pháp Cách Đây Gần Nửa Thế-Kỷ
Đầu hè năm 1962, trên đường đi Pháp rồi sang Đức để trau dồi vốn liếng tiếng Đức của tôi (học ở Mỹ), tôi đã ghé Luân-đôn thăm anh tôi, Nguyễn Ngọc Phách, lúc bấy giờ đang làm việc ở Anh cho Đài BBC. Kinh-nghiệm những ngày tôi ở Anh cũng rất đáng kể lại nhưng chắc phải để dịp khác. Như chuyện tôi rất ngỡ ngàng khi khám-phá ra rằng “the Queen’s English” rất khác tiếng Anh ở Mỹ, thậm chí có thể làm cho ta có cảm-tưởng rơi vào một nước nói tiếng khác; rồi cơm Tàu ở Anh cũng rất khác cơm Tàu ở Chinatown New York v.v.Chỉ cần biết là trong thời-gian đi làm cho Ban Việt-ngữ của Đài BBC thì anh tôi cũng bỏ thời giờ ra lấy thêm một số lớp ở London University về văn-học Anh (nhất là Shakespeare) và tiếng Ý (Tại sao tiếng Ý? Có lẽ tại vì Shakespeare dùng khá nhiều điển xuất phát từ nước này, như chuyện Romeo and Juliet, chẳng hạn). Chính vì thế mà chúng tôi hẹn nhau, cuối hè, khi tôi học xong lớp tiếng Đức của tôi ở Áo, anh tôi sẽ bay sang để đi chu-du một chuyến với tôi, từ Áo sang Ý rồi về Pháp trước khi tôi đáp máy bay về VN trên đường đi Nhật. Những ngày hoà-bình đó, giờ nghĩ lại tưởng như là “ngày Giời, tháng Bụt,” khung trời mở cửa thênh thang trước mặt ta. Dù như nếu ta nhớ lại lịch-sử thì năm 62 cũng là năm của cuộc “khủng-hoảng hoả-tiễn ở Cuba” (“the Cuban missile crisis”) sém đưa Nga và Mỹ vào một trận thư hùng của Thế-chiến III, suýt đưa nhân-loại vào lò vũ-khí hạt nhân theo một kịch-bản mà người ta gọi là “một kịch-bản thế-giới tương-tàn.”
Song dù ngành học của tôi là Chính-trị-học, tôi vẫn chưa hiểu gì nhiều về những thứ chính-trị ở thượng-tầng khí-quyển đó. Có thể nói là chả hiểu gì cả, “ignorance is bliss” như người ta thường nói trong một câu ngạn-ngữ tiếng Anh.
Thành hai anh em chúng tôi cứ thong thả dong chơi. Sang tới Vienna, tôi đưa anh tôi đi một vòng rồi đi tìm chỗ ăn. Bởi anh tôi thích ăn cơm ta (mà chúng tôi biết chắc là chưa có ở Vienna hồi bấy giờ--chả bù với ngày nay thì lại có những tiệm thật ngon như của con anh Nguyễn Văn Trần), chúng tôi đành phải nghĩ đến tìm tiệm Tàu. Tưởng một thành-phố như Vienna thì cơm Tàu kiếm thế nào chẳng ra. Chẳng dè đi hết buổi, từ sáng đến tối, không đâu thấy có tiệm nào như vậy cả. Đó là một cái lạ đầu tiên. Cuối cùng thì cũng nhờ hỏi quanh hỏi quất, chúng tôi tìm ra được một tiệm khuất trong một ngõ hẻm ở ngoại-ô. Vào đã thấy hơi là lạ bởi tiệm vắng tanh. Nhưng đói quá rồi, đành phải gọi cơm đi thôi. Cơm đem ra thì không ghê khiếp nhưng cũng nuốt được. Và vì cả tiệm chẳng có ma nào ngoài hai anh em chúng tôi nên một lúc, chúng tôi cũng gợi chuyện được với ông chủ. Thì ra ông ta lại là Tàu Hải-phòng lưu lạc sang đến tận Vienna, và một lúc sau chúng tôi lại còn chứng-kiến được một chuyện lạ hơn nữa: đó là ông đầu bếp không phải là Tàu mà lại là một ông Tây đen Phi-châu. Chả trách!
Bởi ngày rộng tháng dài nên chúng tôi cứ tà tà, hôm nào nổi hứng đi đâu thì đi đó. Trước khi rời Vienna, chúng tôi kiểm-soát lại tiền thì thấy khá thiếu hụt. Sợ không đủ để đi một vòng nước Ý trước khi về Pháp, ông anh tôi vội đánh điện về Luân-đôn cho một người bạn (anh Tôn-thất Kỳ) nhờ ứng tiền ra cho vay, gửi sang gấp để chúng tôi còn đi hai nước nữa. Nhưng đợi mãi, gần một tuần mà vẫn chẳng thấy tiền đâu trong khi tiền tôi mang theo đã bắt đầu cạn, tiền ông anh đem sang cũng không rủng rỉnh gì cho lắm.
Salzburg
Cuối cùng, chúng tôi đành phải quyết-định lên đường thôi. Để hà tiện tiền khách-sạn, chúng tôi tính cứ mua vé xe lửa lên đó ngủ tới chặng sau, tới nơi thăm thú rồi lại lấy vé đi tiếp. Bằng cách này, trên đường sang Ý, chúng tôi ghé Salzburg, quê của Mozart, và lập-tức ông anh tôi mê tít cái thành phố nên thơ này. Có lúc ngồi gốc cây hóng mát, chân nhúng xuống nước trong như lọc của dòng sông Isar, ông anh tôi đã nổi hứng phán: “Về già, anh muốn về chết ở đây.” Ông anh tôi không nói ra nhưng tôi ngờ, ông chỉ có ý định đó là vì mấy cô bé Salzburg, mặt lúc nào cũng ửng hồng như con gái Đà-lạt, lại có thói mặc một cái yếm màu mà tiếng Đức (ở Áo) gọi là “Dirndl”—xinh ơi là xinh. Cái áo có yếm này được người ta xem là đặc-thù của các cô vùng này đến nỗi người ta gọi luôn các cô cũng là “Dirndl.” Thế có nghĩa là Dirndl vừa là cái áo, vừa là cô con gái mặc áo loại yếm vuông đó. Mà phải nói thật, không chỉ có ông anh tôi mê các Dirndl, thả ra tôi cũng chẳng chê!
Có thể nói thời-gian ở Salzburg là lúc nào mình cũng cảm thấy như bay bổng, gần như đang sống ở Đào-nguyên, với nhạc Mozart văng vẳng bên tai, đan vào với tiếng suối róc rách (“Côn-sơn có suối nước trong / Nước nghe róc rách như cung đàn cầm…”—thơ Nguyễn Trãi), trong khi nhìn chung quanh thì chỉ thấy các nàng Dirndl như sửa soạn sắp đến “dâng” cho mấy chàng Lưu Nguyễn tân-thời này “hai trái đào tiên.”
Bắc-Ý
Chẳng thế mà cực chẳng đã, chúng tôi mới rời bỏ được Thiên-thai để sang vùng Tyrol đầy đàn hát và múa vũ trước khi đi vào nước Ý. Tới Ý, chúng tôi trực-chỉ đi Bologna đến nhà người bạn mà tôi đã gặp và học chung với ở Munich. Anh ta và gia-đình bố mẹ đón tiếp chúng tôi thật niềm nở, coi gần như một thứ thượng-khách nên chúng tôi được ăn ở khá tươm tất trong mấy ngày. Thành phố Bologna không đẹp nhưng khá cổ kính, đặc-biệt đi ở những đường phố chính đều có hàng hiên rộng gạch đỏ, có mái che nên không bị nắng mưa, đi lại mua bán rất mát mẻ dễ chịu. Và hiển-nhiên đây cũng là quê hương của món xúc-xích Ý nổi tiếng mang tên… Bologna!
Mấy ngày ở Bologna, chúng tôi được anh bạn chiều chuộng đủ điều. Giới-thiệu với các bạn bè, rủ đi chơi các nơi, thăm thú các thành phố lân cận. Mới biết người Ý tính lạc-quan, thích vui đùa, chỉ phải đối với người Ý trẻ, nhiều người còn nói được tiếng La-tinh (một hình-thức cổ của tiếng Ý) một cách khá tự-nhiên. Nên họ đổi từ tiếng Ý hiện-đại sang tiếng La-tinh một cách khá dễ dàng, họ đùa nghịch, kể truyện cười, chọc ghẹo nhau khi bằng tiếng Ý khi bằng tiếng La-tinh… làm cho anh em tôi đôi khi ngớ ra dù rằng hồi nhỏ mình cũng có học tiếng La-tinh và tôi còn nhất lớp nữa.
Không chỉ đưa đi xem Bologna, anh bạn còn hướng-dẫn chúng tôi sang những thành phố gần đó như Siena, Ravena (nổi tiếng ice cream ngon) hay Pisa (với cái tháp tròn nghiêng hơn năm trăm năm mà vẫn không đổ). Chúng tôi còn lưu lạc sang tận cả Venezia (= Venice), thành phố của các gondola, các thuyền cong mũi do các tay chèo đưa đi thăm thú các nơi qua các kinh rạch, tựa như ngày nay ta đi thăm các chợ sông ở Bangkok bằng taxi nước vậy. Đêm về, các tay chèo gondola này nhiều khi còn nổi hứng hát vang lên những điệu dân-ca nổi tiếng như “Santa Lucia” hay “Funiculi Funicula.” (Giờ đây, Bangkok có nhiều đường phố lớn đắp đè lên các kinh lạch xưa nên cuộc sống trên các sông rạch đã bị thu hẹp đi nhiều so với trước nhưng vẫn còn có nơi ta có thể mường tượng được ra cuộc sống trên sông hồ ngày xưa, nên đã có lúc Bangkok được gọi là Venice of the Orient. Thật ra, Kẻ Chợ ngày xưa, nghĩa là Hà-nội vào thế-kỷ thứ 17-18 cũng có hiện-tượng này, con người ta đi lại trên sông hay các kinh rạch tự-nhiên, thoải mái như ngày nay người ta sống trên một số kinh rạch ở đồng bằng sông Cửu Long vậy.)
Nhưng sau khi đi thăm Venice với cái piazza (quảng-trường chữ nhật) San Marco nổi tiếng của nó thì anh em chúng tôi cạn hẳn tiền, mỗi người chỉ còn vài nghìn lira, chắc chắn không đủ để đi ngủ khách-sạn (dù là “albergo della gioventù,” quán trọ rẻ tiền dành cho tuổi trẻ, đi chăng nữa). Mặc dù vậy, chúng tôi vẫn còn tham, còn cố đi thăm Firenze (tức Florence) mà cả thành phố có thể xem như một bảo-tàng-viện sống về mỹ-thuật thời Phục-hưng (thế-kỷ XIV-XV ở Ý). Dante (1265-1321, đọc “Đan-tê” chứ không phải “Đăng-tơ” như trong tiếng Pháp), nhà thơ lớn nhất của Ý, tác-giả La Divina Comedia (“Hí-khúc thần tiên” hay còn gọi là “Thần-khúc”), sống ở đây. Và hiển-nhiên, đến Fi-ren-xê là cũng để trầm mình vào mỹ-thuật, tranh tượng thời Phục-hưng với những tác-phẩm tuyệt trần đời của Brunelleschi (kiến-trúc-sư), Donatello (điêu-khắc-gia), Masaccio, Piero della Francesca, Botticelli (tranh “Venus nổi lên từ sóng nước”), Mantegna, Bellini (tất cả là hoạ-sĩ sơn dầu) trong sơ-kỳ bùng nổ của giai-đoạn này. Sang đỉnh-điểm thời Phục-hưng (1490-1520) thì ta lại còn có những nghệ-sĩ lớn hơn thế nữa, những đại-hoạ-gia như Leonardo da Vinci (tranh Mona Lisa) hay Raphael, những điêu-khắc-gia, hoạ-sĩ và kiến-trúc-sư như Michelangelo (tượng Pietà, tranh trên vòm Sistine Chapel), Bramante (kiến-trúc-sư) v.v.
Dù chúng tôi học hỏi được rất nhiều song bụng thì khá đói vì tiền không còn bao nhiêu, nhiều lúc chỉ dám mua bánh mì ăn trừ, ăn chay nghĩa là không có cái gì đi kèm cả. Hai anh em bèn nảy ý, đã đến mức này thì chỉ còn mỗi một cách là đi tìm việc độ nhật. Tức thì chúng tôi thấy một số người mặt mũi đen đuốc đang đứng bên đường sàng như sàng rác. Lân la hỏi thăm (những lúc này mới thấy lõm bõm tiếng Ý là quan-trọng, là chuyện sống còn), chúng tôi được biết là họ đãi rác để tìm kim-khí, bất cứ loại kim-khí gì (đồng, chì, sắt vụn v.v.). Hỏi: Chúng tôi làm được không? Tại sao không, họ trả lời. Nếu chúng mày làm thì sẽ được lãnh mấy trăm lira một giờ, nghĩa là một thứ lương rẻ mạt. Song rẻ thì rẻ, vẫn là tiền mà lúc bấy giờ chúng tôi cần hơn bao giờ hết, để sống qua ngày.
Chỉ buồn cười là cuối ngày, anh em tôi mỗi người được vài trăm lira, thấy khoái chí, nghĩ rằng mình đã có thể mua bánh mì ăn tối đó. Còn đang suy tính thì bỗng thấy có một xe cam-nhông chở hàng lớn đi qua, vội vẫy lại xin quá giang. Anh tài xế lái một mình cả ngày nên có lẽ cũng thấy buồn, bèn phanh kin kít lại để cho chúng tôi lên. Nhưng xe lớn nên khi đậu lại được thì cũng cách chúng tôi cả mấy trăm thước là ít. Hai anh em bèn cắm cổ chạy theo, sợ lâu quá người ta không chờ mình nữa. Hộc tốc đến nơi, leo được lên xe, cám ơn rối rít rồi thở hắt ra, hổn hển. Gặp một anh tài vui tính người miền Nam (nước Ý) nên cũng hơi khó nghe một chút song chúng tôi cũng bắt được chuyện. Tức thì anh kể đủ chuyện, nào chuyện vợ, chuyện con, chuyện Ý miền Bắc, Ý miền Nam kỳ-thị nhau như thế nào, rồi chuyện chính-trị v.v. Nghĩa là chuyến đi khá thích thú, anh còn dạy chúng tôi là “mấy thằng Ý miền Bắc, chúng khinh khi chúng tôi (Ý miền Nam), chúng gọi chúng tôi là heo là lợn (‘porci’) trong khi chúng cũng chẳng hơn gì, lũ chó!” Chúng tôi nghe tiếng được tiếng không song cũng tạm hiểu, cười hể hả với anh.
Chả mấy lúc xe đến Torino (Turin trong tiếng Anh, tiếng Pháp), quê hương của xe Fiat. Anh thả chúng tôi xuống. Bấy giờ khá đói, chúng tôi mới mò đi tìm chỗ ăn. Thấy có chỗ bán spaghetti khá rẻ, định xà lại song rờ vào túi mới thấy tiền làm ra ban chiều biến đâu mất hết. Thì ra nó trả bằng tiền đồng, lúc chạy theo xe không để ý, tiền xốc hết cả ra, chỉ còn có vài tờ giấy vụn. Thế là lại phải ăn chay, nghĩa là chỉ có bánh mì không. Được cái, bánh mì Ý thì cũng ngon không thua gì bánh mì baguette của Pháp nên cũng lót dạ được. Vả, cũng nhờ kinh-nghiệm đó mới biết được là ở Ý, người ta bán spaghetti hay các thứ thức ăn khác (pizza, lasagna, macaroni…) theo từng 100 gram một. Thấy người ta đề giá đó, người không quen sẽ ham đòi mua một đĩa chẳng hạn, họ sẽ cân đo và tính lên gấp 5 gấp 6: thì hoá ra một đĩa có thể là 500-600 gram và người bán cứ việc nhân lên với giá của 100 gram mà tính tiền. Nghĩa là ngu ngơ mà đụng vào là cháy tay!
Vì Torino chả có gì lắm để coi (mãi sau này tôi mới biết là ở đây có cái “shroud of Turin,” một cái áo mà theo truyền-thuyết Jesus đã mặc hồi sinh-thời nên giờ đây còn mang máng thấy hình ông in trên áo) nên chúng tôi lại tìm cách mò đi Milano (Milan trong tiếng Anh, tiếng Pháp). Đến nhà ga Milano, vừa bước từ trên xe lửa xuống, hai anh em chúng tôi thấy mình bị coi như một thứ xiếc. Không hiểu từ đâu, một đàn con gái khoảng 16-17 tuổi, cũng phải có đến 10-12 cô, làm một vòng đi quanh anh em chúng tôi, vừa đi vừa chỉ trỏ rồi cười nói vui vẻ. Chưa biết phải phản-ứng ra làm sao thì một cô trong đám hất hàm hỏi: “Cinese?” (“Ba Tàu hả?”) Đến khi chúng tôi lắc đầu trả lời: “Vietnamita” thì các cô ra vẻ thích thú, hỏi tiếp: “Thế các anh có muốn chúng tôi đưa đi coi tỉnh không?” Lạ quá! Thấy các cô đon đả thân thiện, chúng tôi chịu ngay. Thế là cả ngày hôm đó, chúng tôi được đi thăm Milano do một đàn con gái tíu tít dẫn đi, cô nào cũng đòi nói, đòi dạy, chỉ cái này, khoe cái kia. Thực ra, Milano cũng không có nhiều cái để coi nhưng kỷ-niệm hai anh nhà quê được một lô con gái Ý dẫn đi thăm thú thành phố phải kể là một kinh-nghiệm để đời, khó quên. (Giờ ngồi nghĩ lại, tôi vẫn không hiểu tại sao hồi đó, con người ta có thể hồn-nhiên như vậy được. Không những đây không phải là một bọn Gypsy nhằm lột tiền lột máy ảnh của mình, mà cũng không phải là người quen biết nữa. Hoàn-toàn ngẫu-hứng. Tôi cũng không rõ tại sao hôm đó, mấy cô này có thể bỏ được ra cả mấy tiếng đồng-hồ hướng-dẫn chúng tôi đi vòng quanh tỉnh.)
Đêm ở Milano, vì không có tiền nên chúng tôi phải ra công-viên ngủ. Tưởng mình nghèo khó mới phải ra công-viên ngủ, nào ngờ khi ra đến đó thì đã thấy nhiều ghế băng có người chiếm cứ rồi. Phải chật vật, hai anh em chúng tôi mới tìm được ra mỗi người một ghế. Đêm trăng sao thật sáng, lại ngủ trong gió hiu hiu thật tuyệt diệu. Thỉnh thoảng tỉnh dậy thì thấy mấy người đàn ông Ý ngồi nói chuyện với nhau rôm rả. Chúng tôi bèn hỏi: “Các ông không có nhà à?” “Bậy nào, chúng tôi đều có vợ có con có nhà có cửa cả.” “Thế tại sao các ông lại đi ngủ công-viên?” “Thế các anh không thấy là ngủ ngoài này mát thú à?” Khi chúng tôi công-nhận là có thế thật thì họ cười ha hả: “Ngủ thế này có thích hơn không? Nếu tỉnh dậy mà có chuyện gì hay, mình có thể gọi bạn mình dậy kể cho nó nghe. Chứ ở nhà mà nghe vợ con lải nhải thì còn gì là thích thú?”
Sau Milano, chúng tôi tìm đường đi về Pháp. Lại xin quá giang (autostop) đi về phía Bắc, lên núi Alpes. Đến Lugano, nơi có một cái hồ thật đẹp, là chúng tôi bắt đầu đi vào Thuỵ-sĩ, nghĩa là lên núi khá cao và trời bắt đầu lạnh nhiều, dù đây là mới chớm vào thu. Chúng tôi tranh thủ thời-gian để cố về Pháp cho mau nên ngày đêm xin autostop. Được cái may là có thể hai anh em tôi, nhỏ con, trông cũng khá hiền lành nên xin autostop ở mấy nước như Áo, Ý và Thuỵ-sĩ không đến nỗi khó lắm. Cũng có thể là hồi đó (1962) thế-giới hãy còn ở trong tuổi thơ ngây (“age of innocence”) nên chúng tôi vẫn còn được nhiều người thương, cho quá giang tương-đối dễ dàng.
Qua biên-giới
Nhưng tất cả những cái dễ dàng đó, khi đến gần biên-giới Pháp, bỗng biến mất. Để qua Pháp, chúng tôi phải đi qua một cái đường hầm rất dài xuyên qua núi. Tưởng mọi sự cũng được dễ dàng như mọi khi, chúng tôi cứ đứng bên này đường hầm làm dấu xin quá giang nhưng không ma nào dừng lại cả. Như vậy cả ngày mà không có kết-quả, anh em chúng tôi tự nhủ: Hay là mình cứ lên đường rồi nếu gặp may thì sẽ có người cho quá giang, chứ đứng một chỗ mất gần hết ngày mà chẳng gặp ai cả thì không biết đợi đến bao giờ. Nói là làm vì trời đã xẩm tối và nhiệt-độ đã xuống khá thấp. Thế là chúng tôi lên đường.
Đi cả mấy tiếng đồng-hồ mới hết cái đường hầm (tôi không còn nhớ tên nữa), vừa ra thì gặp gác biên-giới của Pháp hỏi giấy tờ. Thì ra đến đó chúng tôi mới vỡ lẽ, sở dĩ không ai cho chúng tôi quá giang là vì người ta ngại cho mình lên xe người ta để qua biên-giới. Người ta đâu biết là trên mình mình có cái gì, biết đâu có đồ lậu hay ma tuý thì làm sao người ta giải-thích được cho các lính gác hay đoan ở biên-giới.
Qua được hầm rồi, trời đã khuya thật khuya và thời-tiết lạnh buốt xương da. Ông anh tôi còn hút thuốc nên đỡ phần nào, riêng tôi thì hoàn-toàn không thuốc lá, không rượu chè nên cứ cắn răng mà chịu. Vì thế cứ phải cố gắng đi cho ấm người nhưng cuối cùng, chịu không thấu, hai anh em mới rủ nhau đi tìm một chỗ nào trú gió. Chung quanh là đồng không mông quạnh, không thấy đến một nóc nhà. Mãi chúng tôi mới tìm thấy một góc tường ở giữa ruộng, nghĩ là có thể nép vào đó mà tránh được gió núi đang rít từng cơn. Chúng tôi dựa vào nhau để truyền chút hơi ấm, anh tôi lấy bật lửa ra châm đốt một tờ báo mang theo từ sáng song cũng chỉ được phừng lên một chút ánh sáng nóng rồi lại tắt ngúm. Cố ngủ vì quá mệt song cũng chỉ ngủ được chừng 5-10 phút rồi cũng phải bật dậy vì quá lạnh. Còn đang phân vân chưa biết làm sao thì tự-nhiên thấy có một ánh đèn pin soi về phía mình. Chưa rõ là cái gì thì bỗng thấy hai nòng súng của một khẩu súng trường hai nòng chĩa thẳng vào người chúng tôi. Hỏi: “Chúng mày đang làm gì? Qu’est-ce que vous faîtes ici?” Vội đáp: “Chúng tôi độ đường, tìm cách trú vào đây!” Đã tưởng ông ta sẽ nhủ lòng thương hại mà cho vào nhà nhưng rồi ông ta chỉ nhìn từ trên đầu xuống đến chân chúng tôi, chắc cũng để đánh giá chúng tôi không phải là kẻ cắp nên nói: “Alors, vous allez décamper, non?” (“Các anh không bán xới đi à?”)
Lúc bấy giờ, khoảng độ 4 giờ sáng. Nghĩ cố ngồi thêm cũng chẳng được vì quá lạnh, hai anh em lại rủ nhau lên đường mong là đi lại một lúc thì thân-nhiệt sẽ toả ra cho bớt lạnh. Nhưng không hẳn, trời vẫn còn khuya và lạnh buốt, gió vẫn rít từng hồi mà là gió núi nên buốt đến tận tâm can, xương tuỷ. Cố chịu trận được một lúc khá lâu thì trời cũng bắt đầu tờ mờ sáng. Đến khoảng độ 6 giờ thì bắt đầu có xe đi lại, hai anh em vội đứng ra làm dấu xin quá giang. Nhưng hoàn-toàn thất bại.
Ức nhất và không thể hiểu được là gần đó cũng có một cô con gái tóc blonde ra vẫy, tức thì có xe ki…ít đậu lại ngay cho lên. Những lúc này mới thấy là người ta khôn. Xe vừa đậu lại, tức thì ở trong một lùm cây gần đó có ngay một anh con trai vác va-ly chạy ra theo cô gái xin đi cùng. Thì hoá ra họ đi theo cặp, cô con gái đứng ra làm mồi, khi xe đậu lại là anh con trai hiện ra liền để đi theo và bảo vệ cô bồ của mình.
Không phải chỉ có một trường-hợp, trong ngày hôm đó chúng tôi chứng-kiến ít ra là hai ba cặp làm như vậy. Và họ hoàn-toàn thành công.
Trong khi chúng tôi chờ từ sáng đến chiều, không thấy ai cho lên cả. Còn đang phân vân chưa biết tính sao vì trời lại bắt đầu tối, sợ lại phải qua một đêm lạnh buốt thì bỗng có một cái xe Citroën Sport trờ tới, đậu lại và hỏi: “Lên không?” Mừng hết lớn, chúng tôi vội vàng nhảy lên và cám ơn rối rít. Tức thì người chủ xe hỏi: “Các anh biết tại sao tôi ngừng lại cho hai anh lên không?” Khi chúng tôi trả lời không thì ông ta mới giải-thích: “Các anh biết không? Tôi đi làm buổi sáng, khoảng 7 giờ tôi qua đây đã thấy hai anh. Giờ chiều về, tôi vẫn còn thấy hai anh ở đây nên tội quá mới cho hai anh lên. David, dis bonjour à ces messieurs.”
David là tên thằng con đi cùng xe với bố, chừng 9 tuổi. Nói chuyện qua lại một hồi, chúng tôi bắt đầu thân mật. Ông bố hỏi thăm chúng tôi học gì, học ở đâu. (Tôi học ở Mỹ còn anh tôi học ở Anh.) Rồi lang bang sang chuyện chính-trị, chính em, chính-tình thế-giới, rồi đến văn-chương, khoa-học, triết-lý v.v. Đang nói huyên thuyên, bỗng chúng tôi nghe đến cái bốp! Thì ra ông ta bớp đứa con: “David, tu vois? Ces messieurs là ne sont même pas français et pourtant, ils parlent français si bien. Alors que toi, tu es un fainéant et ne fous rien.” (“David, mày thấy không? Mấy ông đây đâu có phải là người Pháp mà họ nói tiếng Pháp ngon lành. Còn mày thì mày lười lĩnh, chẳng làm gì cả.”)
Chúng tôi đâm ra ái ngại cho thằng nhỏ, nghĩ bụng chắc nó sẽ hận thù mình suốt đời. Chúng tôi cũng phải cố nói mấy lời an ủi, cho rằng tuổi trẻ thì đôi khi ham chơi một chút thôi chứ không có sao. Chuyến quá giang này là một chuyến vĩ đại vì chúng tôi được đưa tuốt luốt một mạch từ trên núi về đến Lyon, cách xa đó gần 400 cây số.
Ngủ ở vườn hoa, ở ga xe lửa
Đêm hôm đó ở Lyon, chúng tôi cũng vẫn không có nhà nào để đến tá túc. Tiền vào “auberge de la jeunesse” lấy đâu ra, bèn tìm đường ra công-viên ngủ. Tưởng ở đây cũng dễ như ở bên Ý. Nào ngờ, vừa đặt lưng xuống được một chút thì đã có cảnh-sát đến đuổi đi: “Allez, allez!” Lúc đầu còn chạy quanh, cảnh-sát đuổi mình ở góc này thì lại giả vờ đi rồi sang góc khác ngủ. Rồi cố ý làm ngơ, xem như mình ngủ say quá rồi không còn biết trời trăng gì nữa. Nhưng cảnh-sát cũng chẳng vừa. Sau khi đuổi hai ba lần chẳng xong, họ bắt đầu giở ngón nghề của họ. Lúc đầu họ còn chiếu đèn pin sáng loá vào mắt mình. Cố nhắm nghiền mắt lại ngủ tiếp. Thế là họ rút ở trong túi họ ra một cái súng nước bắn đầy nước vào ngay lỗ tai mình, thế là phải vội vã lồm cồm bò dậy… và hậm hực ra đi.
Được cái may, công-viên cũng gần nhà ga (nếu tôi nhớ không nhầm thì cái công-viên còn gọi là “Jardin de la Gare”) nên chúng tôi đi ra ga, giả vờ làm như chờ tàu rồi ngủ gà ngủ vịt. Nhưng thế cũng không yên vì chả mấy lúc có nhân-viên nhà ga đi lại hỏi, vé các anh đâu? Làm gì có vé để mà trưng ra nên lại bị đuổi. Thành thử đêm hôm đó, hai anh em chúng tôi khá vật vờ.
Đợi đến sáng sớm ra đường đi về hướng Paris xin autostop. Khá may, trời còn tờ mờ sáng đã có người đậu lại và cho lên. Thì ra đây là một bác VN làm ngành lục-lộ đã ở Pháp cả 40-50 năm rồi. Vừa lái xe, ông vừa kể chính ông là kỹ-sư coi sóc việc xây dựng đoạn đường đang đi nhưng cũng vì vậy, ông chỉ có thể cho chúng tôi đi được khoảng 50 cây số thôi, bởi đến đó là đoạn cuối đường ông phải tới làm việc hôm đó.
Còn đang bơ vơ chưa biết tính sao thì may quá, lại có một cái xe Volkswagen ngừng lại hỏi: “Các anh đi đâu?” “Chúng tôi đang tìm cách quá giang đi Paris.” “Thế thì lên đi.” Tưởng nhiều nhất là chỉ đi được một đoạn đường, nào ngờ anh bạn người Do-thái tốt bụng kia cho đi tuốt gần 800 cây số về luôn Paris. Thế là mọi khó khăn của chúng tôi tan biến.
Đến Paris, anh thả chúng tôi ở Paris V (Cinquième) gần vườn Luxembourg. Chúng tôi cám ơn anh và hẹn anh đi ăn cơm VN hôm sau để tạ ơn. Về Maison de l’Indochine, chúng tôi không thể sung sướng hơn được sau khi rũ hết bụi đường bằng một màn tắm kỵ cọ thật kỹ lưỡng. Và vui nhất là tiền cũng đợi chúng tôi ở đây: Thì hoá ra ông bạn anh tôi ở BBC, khi được điện-tín của ông anh, lại cứ nghĩ là gửi sang Áo thì muộn mất rồi nên bèn gửi thẳng sang Pháp. Ông đâu biết là vì nhờ sự hiểu lầm của ông mà anh em chúng tôi có dịp đi ngủ như ở hầu hết các công-viên ở miền Bắc nước Ý, rét gần chết lần băng biên-giới qua Pháp… nhưng rồi cũng học được không biết mấy sàng khôn và đo được lòng tốt của biết bao người!
Nguyễn Ngọc Bích
Nhớ lại sau gần nửa thế-kỷ
Đêm 12 tháng 1, 2011
Đồng Xuân, Bang Trinh-nữ
Hoa-kỳ-quốc
Mai Thanh Truyết - Hoài Niệm Cửu Long
Sáng nay, ngày thứ hai trong tuần, bên ly cà phê sớm vào lúc 6 giờ (tôi có lệ đi làm việc rất sớm dù không bị bó buộc giờ giấc trong công việc), mở máy điện toán và vào web của Văn hóa Nhân bản Lạc Việt, tình cờ tôi nghe được tiếng ca sĩ Ngọc Thúy réo rắc qua bản nhạc …Anh Đi Tìm Bông Lúa. Vào giờ nầy, nhân viên chưa đến làm việc, cho nên đây là giây phút thú vị nhứt của tôi, một mình đối bóng… tôi thường bắt đầu viết vào những giây phút đầu tiên trong ngày.Hôm nay, tiếng hát của Ngọc Thủy kéo tôi về một cõi xa xăm, một quê hương đang đắm chìm trong trần luân, đau khổ do vận nước! Bài hát đã được phổ nhạc do Lại Minh Thuận qua lời thơ của Ngô Đình Vận.
Ngọc Thủy đã diễn tả nhẹ nhàng những câu thơ không trau chuốt, mộc mạc nhưng thực sự đã thấm sâu vào trong tôi qua các âm điệu chân quê như: Anh đi tìm bông lúa, qua một thời giông tố, Anh đi tìm thương nhớ, Đây đó nhiều tan vỡ…Anh đi tìm hơi ấm, đâu có còn tia nắng, hỡi em!
Tiếng gọi hỡi Em ở đây, phải chăng là tiếng kêu thắm thiết của người con xa xứ gọi về Quê Mẹ, một miền quê miên viễn xa xôi nơi Tiền Giang, Hậu Giang, nổi trôi theo từng con nước Gò Công, Cần Thơ ….và đang choáng ngộp những phồn vinh thực sự giả tạo với những hình ảnh đầy nghịch lý qua một bà già lưng còm ngồi bên vệ đường bán từng bó rau muống héo úa và hình ảnh của những cậu công tử thế hệ tiếp nối của đảng cộng lái xe sang trọng, đắt tiền chạy vun vút trên đường phố!
Em nơi đây cũng có thể là những lời của mẹ Việt Nam trách cứ những đứa con xa xứ sao không về để vá lại bức dư đồ đã rách nát!
Dù Em là ai chăng nữa, cũng xin cám ơn Ngọc Thủy, Lại Minh Thuận, và Ngô Đình Vận, ba bạn đã làm cho ly cà phê buổi sáng của tôi có ý nghĩa, đã khơi dậy tình quê hương trong tận cùng trái tim, và đã nhắc nhở cho tôi biết rắng tôi vẫn còn …bông lúa Việt Nam bên bờ Thái Bình Dương.
Mai Thanh Truyết
West Covina, Thu 2010
Subscribe to:
Posts (Atom)