Sunday, April 8, 2012

Ngô Đình Vận - Tạp Luận 6: Khổng Tử Phục Tòng Người Đẹp Dâm Đãng Nam Tử

Tạp Luận 6


KHỔNG TỬ PHỤC TÒNG NGƯỜI ĐẸP DÂM ĐÃNG NAM TỬ


Ngô Đình Vận


          Nam Tử người đàn bà xinh đẹp mà dâm loạn nổi tiếng ở thời Xuân Thu đã thu phục được Khổng Tử chiều theo ý của bà ta. Câu chuyện đặc biệt này đã làm cho uy tín của nhà mô phạm uy nghiêm là Khổng Tử bị hoen ố; dân chúng ở đô thị nước Vệ vào khoảng năm 495 trước Công Nguyên được dịp chê bai rằng “trông kìa Đạo Đức chạy theo gái đẹp”.

          Để tìm hiểu câu chuyện hy hữu này, trước hết chúng ta nên biết qua về tình hình chính sự của các nước Lỗ, Tề, Vệ, Tống là bối cảnh diễn ra cuộc gặp gỡ của bà Nam Tử và Thầy Khổng Tử.

          Theo các sự kiện được ghi trong sách Luận ngữ, Tả truyện, Sử Ký… chúng ta có được sự tóm tắt như sau:

          Nước Lỗ là một nước được cai trị bởi dòng dõi của Cơ Công Đán tức là Chu Công, Khổng Tử sinh ra ở đây nhưng vào thời đó nước Lỗ yếu kém nên phải chịu nép vào nước Tề nằm ở phía Bắc là một nước mạnh trong Ngũ Bá.

          Nước Vệ là một nước nhược tiểu do hậu duệ Khang Thúc là em của Chu Công cai quản vì thế Vệ nằm trong ảnh hưởng của nước Tống ở phía Nam. Nước Tống cũng là một trong Ngũ Bá của thời Xuân Thu.

          Theo các sách Luận Ngữ, Sử Ký, Trung Quốc Triết Học Sử… chúng ta có thân thế của các nhân vật chính trong “ván cờ người” bao gồm Khổng Tử, Tử Lộ, Nam Tử, Vệ Linh Công, Tống Trào như sau:

          Thứ nhất là Khổng Tử, một ông Thầy chuyên dạy về Đạo Đức, học trò ông có tới trên 3000 người. Ông dạy học trò phải tiết dục, tránh nữ sắc, Khổng Tử cũng coi rẻ phụ nữ.

          Khổng Tử từ thời trai trẻ đã luôn nuôi mộng phục hồi cơ nghiệp nhà Chu, ông cho mình là người tài đức sánh với Chu Công và có thể đem cái Đạo của mình ra bình thiên hạ. Khổng Tử cũng rất nổi tiếng vì những lời chê trách với bọn vua, quan các nước độc ác, hiếu dâm, ham sắc.

          Thứ hai là Tử Lộ, một đệ tử thân cận của Khổng Tử; Tử Lộ là người ngay thẳng, cương trực; ông này nhiều lần đã can ngăn Khổng Tử không nên giúp đỡ hay ra làm quan dưới trướng hôn quân, bạo chúa.

          Đối nghịch với phe Đạo Đức của thầy trò Khổng Tử là bộ ba dâm loạn gồm Nam Tử, Vệ Linh Công, Tống Trào. Bộ ba dâm loạn này chơi trò “ngoại giao nhục dục” để thực hiện các mưu mô chính trị. Thân thế của bộ ba tai quái này được mô tả trong cuốn The Culture of Sex in Ancient China của Paul Rakita Goldin ở các trang 27, 28 có đoạn được Nguyễn Ngọc Bích dịch như sau:

          “Ở trong Tả-truyện có một trường-hợp loạn-luân nổi tiếng khác giữa mấy ông vua và vợ của họ đã làm cho dân-chúng nổi hứng làm thành dân-ca như trong Kinh-Thi:

          Vệ-Hầu [tức Vệ Linh-công, trị vì 534-493 tr. CN] cho vợ là Nam-tử mời Tống Trào sang chơi. Họ gặp nhau ở Đào. Thái-tử Khoái-ngoại hiến thành Vu cho Tề, rồi đi qua đồng của Tề. Người dân quê bèn hát rằng: “Đã làm yên con nái động cỡn, sao không mang trả con đực?”.

          Nhà bình-luận Đỗ Dự (222-284 sau CN) nói “con nái động cỡn” đây ám chỉ Nam-tử còn “con đực” đây muốn nói đến Tống Trào.

          Nam-tử là con gái nhà vua bên Tống, nổi tiếng vì loạn-luân với anh tên Tống Trào. Chồng của Nam-tử, Vệ Linh-công, không những chấp nhận tính dâm-ô của Nam-tử mà còn khuyến khích bằng cách mời Tống Trào sang giao-hoan với Nam-tử ở Đào. Vì có chuyện loạn-luân này nên chuyện thừa ngôi bị đảo lộn hết cả. Do để vợ ngủ với người khác nên Vệ Linh-công đã đi đến chỗ mất con mình.

          Thái-tử xấu hổ qúa nên nói với Hi-dương Tốc: “Hãy theo ta vào chầu Thiếu-quân [tức nam-tử]. Khi gặp Thiếu-quân, ta sẽ quay về mi, và mi hãy giết mụ ta.” Tốc nói: “Dạ”. Nhưng khi vào chầu phu-nhân, phu-nhân thấy Thái-tử. Thái-tử ba lần quay lại mà Tốc vẫn không tiến tới. Phu-nhân thấy Tốc biến sắc, vội chạy đi và kêu lên: “Khoái-ngoại muốn giết ta.” Vệ Linh-công nắm lấy tay Nam-tử kéo lên một cái đài. Thái-tử trốn khỏi đất Tống.

          Vệ Linh-công không còn lựa chọn nào ngoài việc chọn một ngưòi con thứ…”

          Sau khi biết rõ về các vai trong “cuộc cờ người” chính trị nói trên, chúng ta tìm về duyên do đã dẫn tới cuộc gặp gỡ đầy tai tiếng của Nam Tử và Khổng Tử.

          Theo Luận Ngữ thiên Bát Dật ở các trang 62, 63 được Nguyễn Hiến Lê dịch như sau:

          “Vương Tôn Giả vấn viết: “Dữ kì mị ư Áo, ninh mị ư Táo; hà vi dã?” Tử viết: “Bất nhiên hoạch tội ư thiên, vô sở đảo dã.”

          Dịch: Vương Tôn Giả (một đại phu cầm quyền ở Vệ) hỏi: Tục ngữ có câu: “Nịnh thần Áo, thà nịnh thần Táo còn hơn; câu ấy có nghĩa là gì?” Khổng Tử đáp: “Mắc tội với Trời thì cầu đảo ở đâu cũng vô ích.”

          Chú thích: thần Áo là thần trong nhà, thần Táo là thần trong bếp nước, ăn uống nên quan trọng hơn.

       Có người cho rằng Vương Tôn Giả nói bóng bẩy: thần Áo chỉ Vệ Linh Công. Thần Táo chỉ nàng Nam Tử và Di Tử Hà, những người Vệ Linh Công yêu. Khổng Tử như muốn được dùng ở Vệ thì lấy lòng Nam Tử và Hà Di Tử. Khổng Tử cự tuyệt một cách khéo léo. Ông cứ theo đạo trời, ngay thẳng chẳng cần lấy lòng ai cả”.

          Đối chiếu với các bản dịch Luận Ngữ trong việc nghiên cứu, chúng ta thấy mỗi dịch giả có một “ngữ thuật” khác nhau và tìm được nhiều điều thú vị.

          Sau đây là một thí dụ điển hình có sự khác biệt về “ngữ thuật” của James Legge và Leonard A. Lyall trong đoạn nói về thần Táo và thần Áo.

          James Legge dịch như sau:

          “Wang-sun Chia asked, saying: What is the meaning of the saying, it is better to pray court to the furnace than to southwest corner? The Master said: not so. He who offends against Heaven has none to whom he can pray”.

          Bản dịch của James Legge không có chú thích; bản dịch Anh Ngữ của Leonard A. Lyall thì có phần chú thích:

          “Wang-sun Chia said: What is the meaning of it is better to court the Kitchen God than the God of the Home?” “Not at all”, said the Master “A sin against Heaven is past praying for.” (Wang-sun Chia was minister of Wei, and more influential than his Master. The Kitchen God of the Home (the Roman Lares), but since he see all that goes on in the house, and accends to heaven at the end of the year to report what has happened, it is well to be on good terms with him).

          Tiếp theo thì Khổng Tử đã yết kiến Nam Tử. Cuộc gặp gỡ hiếm có được sách Triết Học Phương Đông của Nguyễn Đăng Thục trích Luận Ngữ được mô tả như sau: “…Vua Vệ bấy giờ có người vợ tên là Nam Tử nhan sắc rực rỡ và dâm đảng vô cùng. Nàng ấy muốn tiếp ngài. Khổng Tử cố từ chối nhưng phép lịch sự phải vào yết kiến vì theo tục nước ấy hễ ai đến nhận chức gì của nhà vua thì cũng phải vào ra mắt vợ vua. Nàng Nam Tử tiếp ngài ngồi sau tấm màn gai. Khổng Tử hướng về phương Bắc như phủ phục. nàng Nam Tử vái lại hai vái.

          Tử Lộ thấy ngài vào yết kiến Nam Tử lấy làm không bằng lòng. Ngài nói: “Dư sở phủ giả. Thiên yếm chi, thiên yếm chi! Nếu ta có làm điều gì không phải thì trời bỏ ta!” vua Vệ lại chiều nàng Nam Tử mời ngài đi xe theo sau ra chơi ngoài đô thị. Có người cười mà chỉ trỏ: Kìa đạo đức chạy theo gái đẹp. Ngài phải than: Ngô vi kiến hiếu đức nhi hiếu sắc giả dã; Ta chưa từng thấy ai yêu đức tốt như sắc đẹp bao giờ”.

          Từ các sự kiện nói trên chúng ta thấy Khổng Tử đôi lần từ chối gặp Nam Tử chỉ là thủ đoạn làm giá để hy vọng có thể mặc cả với triều đình nước Vệ mà thôi.

          Tuy vậy dù Khổng Tử đã muối mặt chiều lòng Nam Tử nhưng Vệ Linh Công đã không chịu dùng Khổng Tử làm bất cứ chức vụ gì, và rồi Khổng Tử chán nản nước Vệ lên đường đi tìm việc ở vài nước khác.

          Về biến chuyển ở nước Vệ theo sách The Culture of Sex in Ancient China có đoạn được Nguyễn Ngọc Bích dịch như sau: “Ba năm sau, khi Linh Công chết, người con thứ từ chối lên ngôi. Nam Tử buộc lòng phải chấp nhận người con của chính kẻ tính giết mình lên ngôi ở nước Vệ.”

          Nước vệ có vua mới, tình thế đổi thay, Khổng Tử quên lời thề ở đất Bồ rằng “không bao giờ trở lại Vệ nữa”. Khổng Tử đã tới lảng vảng ở thành đô nước Vệ, việc này trong sách Khổng Tử của Nguyễn Hiến Lê trang 72 viết rằng:

          “Mùa hè năm 493, trong khi Khổng Tử ở Trần thì Vệ Linh Công chết. Bây giờ (488) ông trở về Vệ thì cháu nội Linh Công là Xuất Công Triếp đã lên ngôi. Đáng lẽ ngôi vua về Khoái Quý là cha của Triếp, nhưng Khoái Quý chống mẹ là Nam Tử, có lần muốn sai người ám sát mẹ dâm loạn, việc không thành, phải trốn qua Tề. Vì vậy Nam Tử cho Triếp lên để cự lại cha. Triều đình Vệ cực đồi bại.

          Khi tới Vệ, Tử Lộ hỏi Khổng Tử: Nếu vua Vệ giữ thầy lại mà nhờ thầy coi chính sự thì thầy làm việc gì trước? Khổng Tử đáp: Tất phải chính danh trước hết chăng? Tử Lộ nói: Vậy ư? Lời thầy vu khoát rồi. Sao lại phải chính danh? Khổng Tử nói: Do, anh thật thô thiển. người quân tử có điều gì không biết thì không nói bậy. Nếu danh hiệu không chính (xác) thì lời nói không thuận lý (vì danh hiệu không hợp với thực tế), lời nói không thuận thì sự việc không thành; sự việc không thành thì lễ nhạc, chế độ không kiến lập được thì hình phạt không trúng; hình phạt không trúng thì dân không biết đặt tay chân vào đâu (không biết thế nào cho phải). Cho nên người quân tử đã dùng cái danh thì tất phải nói ra được (tất phải thuận lý); đã nói điều gì tất phải làm được. Đối với lời nói, người quân tử không thể cẩu thả được.” (XIII. 3).

          Khổng Tử mắng Tử Lộ là thô thiển, tuy nhiên chúng ta thấy chính lời nói và việc làm của Khổng Tử đã không đi đôi với nhau, Khổng Tử từng có ít nhất hai lần chê không thèm nịnh Nam Tử nhưng rồi cuối cùng ông lại phục tùng Nam Tử. Khổng Tử thề ở đất Bồ là sẽ không bao giờ trở lại nước Vệ nữa nhưng bây giờ quyền hành thực sự ở Vệ nằm trong tay Nam Tử thì Khổng Tử đã quay lại nước Vệ với hy vọng được triều đình nước Vệ tin dùng. Khổng Tử đã đổi ý liên tục khiến chúng ta nhớ tới câu tục ngữ đầy tính mỉa mai “quân tử nhất ngôn là quân tử dại, quân tử nói đi nói lại là quân tử khôn.”

          Khổng Tử nhà đạo đức “nói đi nói lại” mà cũng chẳng trở thành người khôn. Khổng Tử và một số đệ tử lảng vảng ở thành đô nước Vệ nhưng Nam Tử chẳng thèm ngó ngàng gì tới.

          Đọc trong Luận Ngữ một cuốn sách được coi là khả tín, ít bịa đặt nhất của Khổng Nho nhưng chúng ta cũng nhận thấy có quá nhiều mâu thuẫn từ lời nói tới việc làm của thầy trò Khổng Tử.

          Chính vì kẻ giảng dạy Đạo Đức mà còn “tiền hậu bất nhất” thì làm sao tránh được các lời đàm tiếu, dị nghị. Nội việc nhà Đạo Đức Khổng Tử giao tiếp với Dâm Nữ Nam Tử cũng là chuyện để các học phái ngoài nho gia chỉ trích, phê bình đến độ nghi ngờ luôn cả sách Luận Ngữ. Nhiều nhà nghiên cứu đời sau không thỏa mãn về việc Luận Ngữ ghi lại quá sơ lược về chuyện Khổng Tử gặp Nam Tử rồi bị Tử Lộ trách cứ.

          Ngay từ đời Chiến Quốc, đời Tần, đời Hán đã có nhiều người chê trách Khổng Tử phục tùng Nam Tử. Một trong các sự chế diễu cay độc là của Vương Sung “Wang Ch’ ung” (27-97).

          Tài liệu này được hai học giả Siegfried Englert và Roderich Ptak thuộc đại học Heidelberg (Đức Quốc) dùng làm tài liệu để viết một bài báo với tựa “Nan-Tzu, or why Heaven did not crush Confucius”. Bài này sau đó được đăng trên tờ American Oriental Society, Vol. 106, No. 4 (Oct. – Dec., 1986).

          Bài viết này có lời chế nhạo của Vương Sung được Nguyễn Ngọc Bích dịch như sau:

          “Có lần Vương Sung (27 đến khoảng 97 theo CN) đem ra giễu chuyện này. Ông ta không tìm cách làm sáng tỏ những vụ việc được kể lại (một chuyện khá tế-nhị như ta sẽ được thấy sau này); ông chỉ "théc méc" về lời thề của Khổng-tử và do đó, có thể cho ta ngờ vực về tính khả tín của họ Khổng:

          "Tôi [nghĩa là Vương Sung] hỏi: “Bằng cách chạy tội như vậy thì Khổng-tử có thực-sự chứng minh được là mình vô tội không? Nếu quả đã có lần Trời sụp và đè chết người ta vì người này làm chuyện ô nhục thì ông Khổng có quyền nhắc đến, thậm chí cả thể độc như thế. Tử-lộ sẽ có nhiều khả-năng là tin ông ta và như vậy ông ta sẽ được bạch-hoá. Đằng này, chưa bao giờ ai thấy có người bị Trời đè cả. Như vậy thì liệu Tử-lộ có tin được lời thề là nếu ông ta nói láo thì Trời sẽ đè ông ta chết không?

          "Chuyện đôi khi xảy ra là có người bị sét đánh chết, hoặc chết đuối hoặc bị hoả-hoạn hay bị một bức tường đổ vào người mà chết. Giá mà ông Khổng nói: “Hãy để cho tôi bị sét đánh, hay chết đuối hay bị cháy, hoặc bị một cái tường đổ mà đè chết tôi," thì Tử-lộ chắc chắn đã tin ông ta. Nhưng đằng này, ông lại thề thốt với Tử-lộ bằng một tai-nạn mà chưa bao giờ ai thấy xảy ra ở trên đời. Nói vậy thì làm sao mà xoá được hết nghi ngờ trong óc của Tử-lộ và làm cho Tử-lộ tin được?"

          Nếu sự việc xảy ra đúng như trong đoạn trích trên đây thì Khổng-tử đã ở trong một thế nan-giải, bởi làm sao mà ông chứng minh được là ông ta đã chỉ có một cuộc diện-kiến chính-thức? Vì nói cho cùng, con người ta thì dễ ngả về hướng tưởng tượng ra những chuyện giựt gân.”

          Để kết thúc câu chuyện Khổng Tử liên hệ với Nam Tử; một câu chuyện khá phức tạp, nhiều ngoắt ngéo đã gây ra các tranh luận từ thời Xuân Thu cho tới ngày nay đầu thế kỷ 21. Chúng ta dựa vào các tài liệu ghi trong Luận Ngữ, Tả Truyện, Sử Ký, các phê bình, giải thích Luận Ngữ của Trình Y Xuyên, Chu Hy… Chúng ta có thể có được một giả thuyết với các luận điểm như sau:

          Quan hệ tính dục tay ba giữa Nam Tử, Vệ Linh Công, Tống Trào là một “thủ đoạn ngoại giao” bệnh hoạn. Nước Vệ cần được sự che chở của nước Tống nên Vệ Linh Công đã chiều lòng Nam Tử để bà này tiếp tục gian dâm với anh cùng cha khác mẹ là Tống Trào. Đổi lại Nam Tử để yên cho Vệ Linh Công được sủng ái Hà Di Tử cùng với bà ta.

          Các chuyện dâm loạn ở triều đình nước Vệ vốn bị dư luận chê trách nên Nam Tử và Vệ Linh Công muốn dùng “con cờ” Khổng Tử để giải trừ bớt các chỉ trích của dư luận với triều đình. Phần khác vì tự ái, tò mò Nam Tử quyết đòi Khổng Tử gặp riêng bà ta rồi mời Khổng Tử theo xe đi chơi ngoài đô thị.

          Khổng Tử nhà Đạo Đức đương thời mà còn theo phò Nam Tử thì còn ai dám chê bai Nam Tử nữa.

          Về phía Khổng Tử, ông đã cố gắng chiều lòng Nam Tử với âm mưu là sẽ được Vệ Linh Công tin dùng để từ cái nước nhỏ này, ông dùng làm bàn đạp để thi thố tài năng của ông mà ông thường nói là phục hồi chế độ Nhà Chu.

          Trong “ván cờ người” này, Nam Tử thắng còn Khổng Tử thì thua thê thảm ấy là chưa nói về chuyện giựt gân mà Vương Sung đã gợi sự tò mò cho hậu thế để có hứng nghiên cứu Khổng Nho.

Ngô Đình Vận
March 28, 2012

Friday, March 16, 2012

Thơ Lạch Xuân Hương



T h ơ

L Ạ C H   X U Â N   H Ư Ơ N G






“CẾ” BÁC

Học theo “Cế Hoạch Kụ Hồ”
“Kực cì” bí mật phòng hờ ngoại bang.
Kết đoàn Trung Quốc anh em,
Việt Trung tuần thám trong vùng Á Đông.
“Tự Do Đồ Qúy” ngụy trang,
Cũng như Độc Lập phải đem giấu liền.
Gửi qua tận Cấm Tử Thành,
Cất vào chỗ kín để dành về sau.
Quốc phòng bố trí lại mau,
Sukhoi “sáng tạo” thêm khâu tàng hình.
Lên mây tắt máy mà rình,
“Nước ngoài” nó xúi nhân dân biểu tình.
Bao nhiêu cải tiến Vũ Trang,
Đều vào vị trí sẵn sàng xung phong.
Lễ này không có diễu binh,
“Nước ngoài” nó thấy hết “hàng” quân ta.
Mồng 2 tháng 9 khỏi “no”,
Trung Ương đã mở Hội là Thăng Long.
Mừng ngày Quốc Khánh đàn anh,
“Việt Hoa Đồng Thuận” mừng chung một ngày.

Lạch Xuân Hương
September 03, 2011

MÀO ĐẦU TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP

Hồ Râu thử máy mào đầu,
Sao im phăng phắc chỉnh lâu thế này.
Lắc cần rồi lại nhấn giây,
Hỏi anh thợ máy có nghe không nào.
Hỏi năm, bảy bận thấp cao,
Bỗng nghe tiếng nói ồn ào trên loa.
Đám đông mừng máy truyền to,
Vỗ tay hào hứng, hoan hô rùm trời.
Hồ Râu chớp lấy ngoắc tay,
Tuyên Ngôn là bản chép sao quá kỳ.
Đàn em ca ngợi vụng về,
Có thằng láu cá nâng bi bốc nhằng.
“Bác” bình dân quá hỏi rằng ,
Đồng bào nghe rõ tôi không, đồng bào.
Vẩu môi “chú Võ” tự hào,
Chính tôi xúc động lệ trào quanh mi.
Một bầy các “chú” lao nhao,
Mào đầu lịch sử đề cao Đảng mình.
Buồn cười vãi đái trong quần,
Là anh thợ máy lo phần âm thanh.
Thế là Ngoại Sử tươi xanh,
“Mào Gà Hoa Khế” dính quanh Cụ Hồ.

Lạch Xuân Hương
September 02, 2011 

NHÀ VĂN HỘI ĐỂU

Tiên sư bố Hội Nhà Văn,
Chúng bay hỗn quá dám quên Cồng Bà.
T. Lan âm khí Khai  ra,
Lệnh Hồ thua đứt phải nhờ Dân Tiên.
Nghe đây, ban xuống làm liền,
Giải Văn “hưng phấn” đặt Thành T. Lan.
 Kụ Hồ của quý giải Thơ,
Báo Bung lề phải mới là Dân Tiên.
Nhà Văn Hội Đểu, ễnh ương,
Khua môi, múa mỏ đâu bằng Phương Nga.
Mừng ngày Độc Lập phành ra,
Hí ha, hí hửng kéo đi Múa Đèn.

Lạch Xuân Hương
August 27, 2011

NÂNG, BÓP KỤ HỒ

“Thẩn thơ” dưới lạch Mỹ Tho
Chữ kho trong cái “trách” to chành bành.
Nâng bi mà hóa bóp chim
“Miền Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ”.
Sinh Cung đẻ gọi thằng cu
Rồi sau tên đổi lu bù xài chơi.
Tính ra trên dưới hai mươi
Còn như bút hiệu đâm hơi kể gì.
Gần hai trăm kiểu dầm dề
Đẹp thì có một, xấu thì gấp trăm.
Nâng bi mà lại bóp nhầm
Chỉ vào hũ mắm thối rùm từ lâu.
Tên Tây, tên Thái, tên Tầu,
Tên Nga, tên dởm vơ vào gian manh.
Dân tiên mới hỏi T. Lan,
Lòi ra cũng “Bác” dê xồm ấu dâm.
“CB” Của Bác y chang,
Tha hồ diễn giải lan man “Sự Đời”.

Lạch Xuân Hương
August 22, 2011

ĐẨY MẠNH CỤ HỒ

Chị em phụ nữ Cao Bằng,
Lệnh trên phổ biến sẵn sàng thi đua.
Dọn hang bí mật Kụ Hồ,
Vạch khe cắt cỏ, tỉa bờ rêu phong.
Khơi Nông rồi lại khai thông,
Để cho mát mẻ, tham quan suối hồ.
Bầy ra xôi, thịt đủ đồ,
Gọi là giỗ  “Bác” dựng cờ liên hoan.
Ba Đình cũng đã động viên,
Chị em đẩy mạnh Tất Thành thi đua.
Cán cờ nắm chặt mây mưa,
Làm nhanh “Cả Cỗ” đón, đưa Kụ Hồ.

Lạch Xuân Hương
August 21, 2011

KỤ HỒ THI ĐUA

Tại sao Hồ nghiện thi đua,
Bởi vì Hồ muốn “Mút Cu” tin dùng.
Bám Mao như rận dưới lưng,
Làm thân khuyển mã lấn vùng Viễn Đông
Hồ thèm uy thế cụ Phan,
Nên Hồ bán cụ lấy tiền xài ngay.
Còn bầy cho Đảng ngón chơi,
Xúi dân đôn hắn lên ngôi Kụ Hồ.
Kụ non đầy ắp máu dê,
Cháu ngoan Kụ cứ việc đè Kụ hôn.
Miệng Hồ cái mõm ác ôn,
Chó săn đệ nhất, “Kụ gâm” Nga Tầu.

Lạch Xuân Hương
August 08, 2011

TÁC PHONG KỤ HỒ

Kụ Hồ ngưỡng mộ họ Mao,
Cho nên Kụ mới để râu xồm xoàm.
Sờ râu mà lại nhớ lông,
Vào hang Pắc Bó Kụ bồng giao liên.
Gái Tầy tình báo Vân Nam,
Kụ Hồ dứt điểm, vô tròng “Nữ Mao”.
Trần Canh dạy Kụ đều đều,
Qúy Ba sai Kụ nhảy vào, cắn đi.
Tác phong của Kụ ai bì,
Đại Đồng, nghĩa vụ trường kỳ thờ Mao.

Lạch Xuân Hương
August 07, 2011

NOI GƯƠNG KỤ HỒ

Kụ Hồ trí tuệ đỉnh cao,
Từ thời trai trẻ để râu bầy trò.
Tấm gương sáng chế mầy mò,
3D hình nổi Kụ Hồ phát minh.
Kụ ngồi kể chuyện một mình,
Trong gương lại thấy bóng hình Dân Tiên.
Cu Tiên nhấy nháy T. Lan,
Kụ Hồ hình nổi cộm lên củ từ.
May tay tự sướng Kụ Hồ,
Cháu ngoan học tập “bí thư” Tất Thành.

Lạch Xuân Hương
August 06, 2011

KỤ HỒ PHẤN ĐẤU

Kụ Hồ phấn đấu trường kỳ,
Vào hang thì cứng, ra đi lại mềm.
Hứng lên múa gậy Kết Đoàn,
Lập ra Đảng điếm luồn trôn Nga Tầu.
Kụ Hồ yêu nước thần sầu,
Những hai Tổ Quốc là Tầu với Nga.
Kụ Hồ thành lập chiến khu,
Để mò suối Lạc, lội bờ khe Nông.
Đẻ ra cái Đảng con hoang,
Giết dân, hại nước, xú danh để đời.

Lạch Xuân Hương
August 06, 2011

THỔI KỤ HỒ

Kụ Hồ nay đã yếu sìu,
Khiến cho Đảng phải kêu gào thổi lên.
Bơm cho to cứng ác ôn,
Để mà trấn cửa thờ nguồn Mác Mao.
Thành đoàn, báo bổ ồn ào,
Làm sao đạt được chỉ tiêu truyên truyền.
Chuyện này thua đứt Dân Tiên,
Tối ngày chép mẩu chuyện riêng Kụ Hồ.
May tay chăm chỉ nhiều giờ,
Cũng đành bất lực phải nhờ T. Lan.
Kẻ này thổi Bác sướng rên,
Kụ Hồ mắt nhắm lim dim gật gù.

Lạch Xuân Hương
Little Saigon. May 17, 2011.

KHỔNG CHÁY

Làm sao đoán được sự đời,
Thay đen đổi trắng tơi bời lá hoa.
Làm sao Luận Ngữ suy ra?
“Đen như mõm chó chém cha sự đời”.
Rêu rao Nho Học đạo Người,
Bỗng dưng bứng tượng Thầy Đời cất đi.
Bắc Kinh rạch xẻ hai bè,
Mép lông tua tủa, mép Hồ cứng cương.
Bạo hành Bảo Thủ thọc luôn,
Hài Hòa rách toạc hết đường ngợi ca.
“Nobel Khổng” cháy thành tro,
Mấy trăm trường dậy Khổng Nho đi đời.
Làm sao hiểu được chữ thời,
Đầu Mao nhẵn bự trấn nơi cửa vòm.

Lạch Xuân Hương
April 24, 2011.

ÁN ĐỂU

Công An quy chụp họ Cù,
Dùng bao cản trở “Bác Hồ” bắn xa.
Tội này suy yếu Đảng ta,
Cản đường Kách Mệnh trên đà tiến công.
Làm cho Bác mất uy danh,
Phơ không trúng đích cửa hang trồng người.
Tội này cũng 7 năm thôi,
Khiến cho Quốc Tế rùm trời kêu la.
Phương Nga lưỡi dẻo, khó qua,
Vặt ngay một cái lá đa che mồn.

Lạch Xuân Hương
April 09, 2011.

HỒ LUẬT PHÁP

Cũng may thầy cãi Quốc Quân,
“Khoanh tay phá rối trị an” dễ dàng.
Lỡ như tay đút vào quần,
Gãi sao đụng “Bác” thì phiền lớn hơn.
Tội này phản động thâm niên,
Bới ra bí mật Đảng mang ghẻ Tầu.
Chuyện này nhạy cảm làm sao,
Công An xử lý lẽ nào mới xong.
Phương Nga cũng khó lòng thòng.
“Bác Hồ” nấm mốc đau lòng chính em.
Chiếu theo Pắc Bó luật Hang,
Còn nhiều khe kẽ gắt hơn luật Rừng.
Vả chăng tên kín gọi riêng,
Đây là nội bộ đừng xen miệng vào.
“Bác Hồ”  theo kiểu đồng dao,
Xú danh truyền khẩu rêu rao để đời.

Lạch Xuân Hương
April 07, 2011.

HỒ BIA MIỆNG

Từ thời có Đảng Việt Minh,
Người dân miền Bắc đã khinh Đảng rồi.
Đặt là bọn Vẹm hại đời,
Chuyên nghề dối trá, giết người không ngơi.
Còn như Hồ cũng có nơi,
Đặt vào của quý trên người phái Nam.
Cháu ngoan nghe được thất kinh,
Thập thành lại cứ dập dình kéo vô.
Trăm năm bia đá, mòn bia,
Vạn niên bia miệng còn nghe tội Hồ.
“Ba đồng một thước vải sô,
Làm sao che nổi Bác Hồ đây em?”.
Trong vùng “kháng chiến” rách bươm,
Chị em xoay sở đi buôn vải Tề.
Thảm thay nhân phẩm ê chề,
Đồng dao sớm đã nói về “tịch biên”.
Là rằng “…đi chợ Cống Triền,
Mua được cái váy bằng tiền Đông Dương.
Trở về đi đến chợ Trương,
Công An lột mất cởi truồng tô hô.
Hoan Hô chính sách bác Hồ”,
Để đời truyền khẩu nghìn thu vẫn còn.

Lạch Xuân Hương
March 25, 2011.

HỒ ĐỘC LẬP

Hoan nghênh “chính sách Đảng Ta”,
“Bác Hồ” nằm giữa chân Nga, chân Tầu.
Đầu thì đỏ hỏn lắm râu,
“Lập trường” lủng lẳng giữa Tầu và Nga.
“Đại Đồng” cõng rắn vào nhà,
Tự Do, Độc Lập thấy “Ta” trong lồng.
Thường dân Nam Bộ ghi công,
“Bác Hồ sống mãi trong quần chúng ta”.
Mới hay duyên kiếp “Bác Hồ”,
Dính liền vào cái củ từ có lông.

Lạch Xuân Hương
March 24, 2011.

HỒ PẮC BÓ

Chú Thu dụ cháu giao liên,
Xuống khe mò ốc, bắt tôm vui vầy.
Cháu ngoan xắn váy Bầy đùi,
Chú Thu “sáng tạo” nhoài người mò cua.
Gái Tầy Cộng Đỏ không vừa
Xoay người “bắt cọp” Chú Thu trợn trừng.
Cháu cười “má đỏ hồng hồng”,
Chú Thu “…tát mấy gầu sòng chưa vơi”.
Vào hang Pắc Bó vật chơi,
“Bác Hồ” sùi sụt, co vòi thở ra.

Lạch Xuân Hương
March 27, 2011.

HOA SEN TẬP KÍCH

“Quốc Hoa đẹp nhất sen hồng”,
Việt Nam dởm nhất có chàng Dân Tiên.
Dân Tiên thúc, đẩy T. Lan,
Hồ nâng cò súng nóng ran đầu ruồi.
Trận này chiến đấu tới nơi,
Cho dù Khai suối, leo đồi có sao.
Tất Thành mũi nhọn thọc sâu,
Địch nào cũng phải ôm bầu chạy thôi.
Quân Hồ nã đạn đã vơi,
Hạ cờ, lau súng lừ đừ rút lui.

Lạch Xuân Hương
March 16, 2011.

HOA SEN PHÌ PHỌP

Mầy mò “Kách Mệnh” thử khơi,
Hoa Sen phì phọp chân ngoài, tay trong.
Công An thường phục lộn sòng,
Rà qua, xét lại kiếm mồng nằm đâu.
Nông, sâu lá tẩy Tự Hào,
Té ra thò thụt quy đầu “Đảng Ta”.

Kách Mệnh Hoa Sen trận giả chơi,
Công An bủa lưới bắt ứ hơi.
Bài ca Đỏ Loét Sen Đồng Tháp.
Văn công nhảy múa phỉnh Đười Ưoi.

Lạch Xuân Hương
Fountain Valley. March 11, 2011.

CHƠI SEN

Múa Sen rồi lại Hát Sen,
Một bầy hộ lý chúng em nựng Hồ.
Tháp Mười đen đủi số bù,
Bị loài Sâu Đỏ trong khu liếm nhằm.

Trèo lên Youtube mà xem,
Hoa Sen ca múa mấy em nịnh Hồ.
Hồ toàn tên dỏm cà bơ,
Tên nào cũng nhất ngoại trừ Sinh Cung.

Ai về cái hố Làng Sen,
Thọc tay móc củ Kim Liên hại đời.
Để cho tuyệt nọc “trồng người”,
Để cho Sen lại thơm mùi Hoa Sen.

Hồ Ly, Hộ Lý, Hồ Lỳ,
Xóc bầu cua bịp cái gì cũng sơi.
Liếm trên, đớp dưới, nuốt tươi,
Sinh ra một lũ Đười Ươi Ba Đình.

Lạch Xuân Hương
Fountain Valley. March 10, 2011.

Saturday, March 10, 2012

Tạp Luận 5: Nhiều Cao Sĩ Cùng Thời Khổng Chê Đạo Nho Thủ Cựu - Ngô Đình Vận



Tạp Luận 5

Nhiều Cao Sĩ Cùng Thời Khổng Chê Đạo Nho Thủ Cựu

Ngô Đình Vận



Khổng Tử một đại chính khách của nước Lỗ đã “lê gót giang hồ” ở vùng Hoa Hạ thời Xuân Thu nhưng vua các nước Chư hầu đều chê là Học thuật của Khổng Tử thủ cựu, không thực tế.

          Nhiều Cao sĩ, Quan đại phu nhiều nước chê Khổng Tử chủ trương theo lễ nghĩa nhà Tây Chu là cổ hủ.

          Theo bài Tiểu tựa của Trí Đức Tòng Thơ mở đầu sách Truyện Đức Khổng Tử của Đoàn Trung Còn thì cuộc đời của Đức Thánh Khổng rất gian nan. Tiểu tựa viết: “Tiếc thay! Ngài sinh nhằm thời loạn, nhằm một thời kỳ mà gươm giáo và mưu gian luôn luôn đắc thắng, Ngài đã chịu lấy sự thiệt thòi của hạng trí thức văn nhân. Nhiều năm làm quan ở nước Lỗ, thăng tới chức Tể Tướng Nhiếp Chánh; công lao khôn xiết, thế mà khi bị người bạc đãi, phải sấp lưng đi, không được một tiếng cám ơn, một lời lã dã.

          Về sau ba mười ba năm mòn bánh xe trên các con đường trong cõi thiên hạ nhà Châu, trải qua bảy mươi hai nước chư hầu không một nơi nào trọng dụng Ngài…

          Đến chết đời đời đua nhau phong tặng… người ta thờ kính Ngài, đưa Ngài lên làm Giáo chủ một Tôn Giáo tức là Nho Giáo”.

          Trong thời đại của Khổng Tử, theo sách Sử Ký của Tư Mã Thiên thì đã có cả 3000 người là học trò của thầy Khổng. Nhiều tài liệu khác ghi nhận trong số đông đảo đệ tử đã có 72 người đạt tới mức hiền giả, người đời sau quen gọi là “Thất Thập Nhị Hiền”.

          Về phía bài bác Khổng Tử ngay trong thời đại của ông cũng có nhiều cao nhân, ẩn sĩ.
         
          Sử gia Hồ Thích trong cuốn Trung Quốc Triết Học Sử đã rất chú ý tới các phương pháp Hiệu Khám (chỉnh lý thư tịch cổ) và Huấn Hỗ (chú thích cổ văn) của các nhà nghiên cứu Khổng Học vào đời nhà Thanh. Hồ Thích cũng viết rằng: “Muốn biết học thuyết của Khổng Tử cần phải biết thời đại của Khổng Tử”.  Từ ý kiến này nhiều người đi sau đã chế ra rằng: “Phải đặt Khổng Tử vào thời đại của ông thì mới có thể phê phán Khổng Tử được”.

          Ở đây chúng ta không loại bỏ bất cứ phương pháp nào để tìm hiểu một nhân vật nhiều huyền thoại như Khổng Tử. Tuy nhiên về mặt phê bình để chắc ăn, chúng ta nên đặt Khổng Tử vào giữa những cao nhân, ẩn sĩ, đại phu cùng thời với Khổng Tử để nghe họ nói gì về Khổng Tử.

          Những vị này là những ngưòi đã gặp gỡ, đối đáp, biện luận với Khổng Tử chẳng hạn như Lão Tử, Án Anh, Tử Tây, Tử Lộ, Mặc Tử… là những người sống ở thời Xuân Thu, Chiến Quốc. Phương cách này sẽ giải quyết ổn thỏa cái ý kiến cho rằng: “Người đời sau hiểu sai Khồng Tử vì không sống ở thời đại của ông”.

          Một điều đặc biệt may mắn cho chúng ta là đang sống trong thời của Internet vì thế chúng ta rất dễ tìm ngay ra được các tài liệu cũ, cổ thư liên hệ tới học thuật của Trung Quốc gồm nguyên bản hoặc được dịch ra Anh Ngữ, Pháp Ngữ…

          Chúng ta chỉ cần đánh máy vài chữ như “Confucius Documents”, “I Ching”, “Chung Yung”… là tìm ngay được cả “mạng lưới thư viện” với nhiều tác giả danh tiếng như James Legge, Arthur Waley, Charles Muller, Wang Tao, Hong Rengan, Wang Pi, D.C Lau…

          Đặc biệt học giả James Legge (1815-1897) là nhà nghiên cứu về Văn  Hóa Cổ Đông Phương thuộc Đại học Oxford Anh quốc. Ông này được sự hợp tác của các học trò người Hoa nên đã dịch nhiều kinh sách cổ của Trung Hoa trong các năm 1893, 1895, 1899 nằm trong khoảng thời từ Từ Hy Thái Hậu của nhà Thanh, Trung Quốc.

          Trong thời gian ở Hồng Kông, James Legge đã dạy nhiều học trò người Hoa, lớp học trò này về sau được coi là mở đầu cho Tân Học phái Văn hóa, Triết học của Trung quốc.

          Như trên chúng ta đã nói về sự ích lợi của Internet để tìm kiếm tài liệu tham khảo; tiện đây chúng ta thử áp dụng sự đối chiếu tài liệu để biết được cách dịch thuật của mỗi người mà có khi khác ý với nhau.

          Sau đây là một vài thí dụ qua sách Luận Ngữ, Thiên 07 Ung Dã (Shu R.): “Tử viết: Duy nữ tử dữ tiểu nhân vi nan dưỡng dã. Cận chi tắc bất tốn, viễn chi tắc oán”. Nguyễn Hiến Lê dịch: “Khổng Tử nói: Chỉ hàng tỳ thiếp và tôi tớ là khó cư xử với họ. Thân cận với họ thì họ nhờn, xa cách với họ thì họ oán”. James Legge dịch thẳng từ chữ Hán ra Anh ngữ: “Book 07 Shu R. - The Master said: Of all people, girls and servants are most difficult to behave to. If your are familiar with them, they lose their humility. If you maintain a reserve towards them, they are discontented”.

          Một thí dụ khác, sách Luận Ngữ thiên 17 Dương Hóa (Yang Ho): “Tử vị Bá Ngư viết: Nhữ vi Chu Nam, Chiêu Nam hĩ hồ. Nhân nhi bất vi Chu Nam, Chiêu Nam kì do chính tường nhi lập dã dư”. Nguyễn Hiến Lê dịch: “Khổng Tử bảo Bá Ngư: Con đã học Chu Nam, Chiêu Nam chưa? Người nào không học Chu Nam, Chiêu Nam thì không khác đứng quay mặt sát vách tường”. James Legge dịch ra Anh ngữ: “The Master said to Po-yu: Do you give yourself to Chau-nan and the Shao-nan. The Man who has not studied the Chau-nan and the Shao-nan is like one who stands with his face right against a wall. Is he not so?”.

          Trở lại với các sinh hoạt của Khổng Tử ở thời Xuân Thu, người đầu tiên dám mắng Khổng Tử là Lão Tử.

          Sách Lịch Sử Triết Học Phương Đông của Nguyễn Đăng Thục trang 267 - 268 đã trích dịch Sử Ký của Tư Mã Thiên nguyên văn như sau: “Lão Tử là người nước Sở, huyện Khổ, quận Lệ, làng Khúc Nhân. Bắt đầu là họ Lý, danh là Nhĩ, tự Bá Dương, tên húy là Đam, làm quan sử của nhà Chu. Khổng Tử đến đất của nhà Chu hỏi Lão Tử về Lễ. Lão Tử nói: Những điều của ông nói thì người cùng xương đếu nát cả rồi chỉ còn lời nói lại thôi. Vả lại người quân tử gặp thời thì lên xe, không gặp thời thì đội cỏ bồng mà đi. Ta nghe thấy rằng người lái buôn khôn, giấu của kín như không có gì. Người quân tử giấu đức thì giáng điệu như kẻ ngu si. Người hãy bỏ cái khí sắc kiêu ngạo cùng lòng tham muốn của người đi, bỏ cái sắc thái với cái ý dâm dật của người đi, những điều ấy không có ích gì cho thân người cả. Ta chỉ có bấy nhiêu lời để bảo cho người biết đấy thôi”.

          “Khổng Tử ra về gọi học trò mà bảo rằng: Chim thì ta biết nó có thể bay, cá thì ta biết nó thể lội, thú thì ta biết nó có thể chạy. Bay có thể đánh lưới bắt, lội có thể câu, chạy có thể đánh bẫy. Đến như loại rồng thì ta không biết nó cưỡi mây mà lên trời lúc nào. Nay ta gặp được Lão Tử tưởng như ta đã thấy được rồng vậy”.

          Người thứ hai chê Khổng Tử là Án Anh, ông này là đại phu của nước Tề, khi tháp tùng vua Tề qua Lỗ nên đã gặp Khổng Tử. Sau khi nghe Khổng Tử nói về chuyện tòng Chu, Án Anh đã can Tề Cảnh Công không nên nghe Khổng Tử; sách Lịch Sử Triết Học Phương Đông của Nguyễn Đăng Thục đã trích một đoạn về Án Anh can vua Tề rằng: “Từ khi các bậc thánh hiền của chúng ta mất đi rồi và nhà Chu đã suy vi, lễ nhạc của chúng ta đã đồi bại vì bị quên đi rất nhiều. Ngày nay Khổng Khâu đòi lập lại lễ nhạc, lễ nghi trong triều, ngoài miếu. Như thế thì suốt đời người ta cũng chưa thuộc hết được những nghi lễ và khảo sát hết các chi tiết. Tôi tự hỏi nhà vua có nên cử dụng Khổng Khâu nếu nhà vua nghĩ tới quyền lợi của dân”.

          Một Đại phu khác của nước Sở là Tử Tây cũng can Sở Chiêu Vương không nên nghe theo Khổng Tử trong việc chính sự.

          Ngược lại Khổng Tử cũng chê Quản Trọng (725-645 TCN) Tể tướng của nước Tề là Quản Trọng không biết giữ lễ của đạo quân thần và Tề Hoàn Công là vua của chư hầu mà dùng lễ của Vương quyền Thiên tử.

          Trong sách Luận Ngữ cũng nói tới việc Tử Lộ một đệ tử của Khổng Tử là người nóng tính, nói thẳng nên Tử Lộ đã nhiều lần can gián thầy Khổng vì sợ thầy lạm dụng “quyền biến” mà sinh họa. Sách LSTHPĐ của Nguyễn Đăng Thục ghi đại ý rằng lần ấy Tử Lộ thấy Khổng Tử và phòng Nam Tử là vợ của vua nước Vệ. Nam Tử đẹp rực rỡ nhưng rất dâm đãng. Tử Lộ đã gây gắt trách cứ vì nghi thầy sa ngã hoặc mắc phải điều tiếng thị phi “nam đáo nữ phòng..” thầy Khổng vì thế đã phải thề độc với Tử Lộ mặc dù Khổng Tử rất ghét dị đoan, tin nhảm.

          Trong sách Luận Ngữ cũng ghi việc Khổng Tử phê bình nhiều đại phu, cao sĩ của các thời nhằm phản biện sự chỉ trích đồng thời giãi bầy về cái Đạo nhập thế của ông. Các nhân vật được Khổng Tử nói tới như Bá Di, Thúc Tề, Ngu Trọng, Liễu Hạ Huệ…

          Một nhà tư tưởng khác là Mặc Tử (khoảng 478-392 TCN) theo Hồ Thích thì Mặc Tử qua đời vào lúc Khổng Tử đã gần 60 tuổi. Mặc Tử sinh ra ở nước Lỗ, mắt được nhìn thấy các việc quái lạ của Khổng Nho gây ra nên ông đã lập ra một phái mới để phản đối. Mặc Tử trách Nho gia rằng: “Tham ư ẩm thực nõa ư tác vụ” có nghĩa là tham ăn uống mà lại lười làm việc. Mặc Tử còn công kích Nho gia rất chi tiết rằng “Đạo Nho có bốn điều đủ làm mất thiên hạ, kẻ Nho cho rằng trời không minh, cho rằng quỷ không thiên, quỷ không bằng lòng cái đó làm mất thiên hạ. Lại chôn cất hậu, để trở lâu, làm ra quan quách nặng, chế áo khâm nhiều, đưa ma như thể dọn nhà, khóc lóc ba năm phải nâng mới dậy, phải chống gậy mới đi, tai không nghe gì, mắt không nhìn gì. Cái đó đủ làm mất thiên hạ. Lại đàn hát, trống múa, tập làm âm nhạc. Cái đó đủ làm mất thiên hạ. Lại cho là có số mệnh. Nghèo, giàu, sống lâu, chết non, thái bình, loạn lạc, an lành, nguy hiểm đều có khuôn sẵn, không thêm bớt. Người trên làm theo ý ấy, ắt không nghe đến chính trị vậy. Kẻ dưới làm theo ý ấy, ắt không thiết đến làm việc vậy. Cái đó đủ làm mất thiên hạ”.

          Nho học sau khi Khổng Tử mất thì đám đệ tử của ông đã chia phe, họ luôn luôn tranh cãi với nhau rồi chia thành 8 phái và phái nào cũng tự nhận là Khổng Nho chính thống.

          Trong hàng đệ tử của thầy Khổng có Tăng Sâm (505-435 TCN) là học trò nhỏ tuổi nhất; Tăng Sâm cũng được cho là người viết sách Đại Học. Cuốn sách này giải thích rõ về Tam Cương là Tề gia, Trị quốc, Bình thiên hạ được coi là sách quan trọng để học đạo nho.

          Tăng Sâm (Tăng Tử) cũng là thầy dạy Khổng Cấp (Tử Tư) tức là cháu nội của Khổng Tử. Tử Tư được coi là người viết sách Trung Dung, sách này giảng giải thêm về cái đạo của Khổng Tử là luôn luôn giữ mình ở mức vừa phải không thái quá hoặc bất cập.

          Trong sách Trung Dung, Tử Tư đã viết một câu quan trọng rằng: “Tổ thuật Nghiêu Thuấn” tức là thuật lại chuyện Nghiêu Thuấn như bậc tổ của mình chính vì vậy mà phái Tân học cho rằng Khổng Tử đã viết ra Ngu Thư tức là Kinh Thư kể chuyện hai đời Ngu, Thuấn.

          Tiếp theo là Mạnh Tử (371-287 TCN), ông này là học trò của Tử Tư; Mạnh Tử đã cực lực đả kích các học phái khác ở thời Chiến quốc để bênh vực Khổng Nho. Trong thiên Đằng Văn Công Hạ, Mạnh Tử viết rằng: “Vua Thánh không ra đời nữa, chư hầu hoành hành, kẻ trí thức nói ngang. Lời nói của Dương Chu, Mặc Địch tràn lan khắp thiên hạ. Người trong thiên hạ không noi theo họ Dương thì cũng noi theo họ Mặc”.

          Tuy nhiên, cũng vì chuyện có rất nhiều cao nhân, ẩn sĩ chê Khổng Tử nên Mạnh Tử đã sửa nhiều khuyết điểm cho Khổng Học. Mạnh Tử đã đề ra thuyết Tâm Linh; nguyên tắc nổi tiếng của Mạnh Tử là “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”, đường lối lấy dân làm gốc là do Mạnh Tử đề xướng.

          Trong thời Chiến Quốc là thời nở rộ của học thuật Trung Quốc gọi là “Bách gia chư tử” nào là Đạo gia, Danh gia, Pháp gia, Âm Dương gia, Tung hoành gia, Tạp gia… các học phái này luôn luôn biện luận, đối kháng lẫn nhau. Trong giai đoạn này có các nhà biện luận nổi tiếng như Huệ Thi, Công Tôn Long… đặc biệt nhất là Trang Tử (369-286 TCN); Trang Tử chịu ảnh hưởng nhiều bởi Lão Tử vì thế học thuyết của ông được xếp vào phái Đạo gia.

          Trang Tử viết Nam Hoa Kinh, cuốn sách ghi lại những cuộc nghị luận giữa Trang Tử và Huệ Thi. Theo LSTHPĐ-NĐT thì trong thiên Tề Vật Luận Trang Tử đã chống lại hai phái Nho và Mặc, ông viết rằng: “Đạo giấu ở đâu mà có chân lý, chân ngụy? Lời nói giấu ở đâu mà có phải trái? Đạo đi về đâu mất mà không còn, lời nói còn ở đâu mà không thể được? Đạo ẩn ở chỗ nên nhỏ, lời nói ẩn ở chỗ ngọn ngành. Bởi thế mà lý phải trái của Nho, Mặc, lấy làm phải điều kẻ kia cho là trái và cho làm trái điều kẻ kia cho là phải”.

          Cũng trong thời Chiến quốc, chúng ta còn thấy học phái Pháp gia đã kịch liệt chỉ trích Khổng Nho; chẳng hạn như Công Tôn Ưởng - Thương Quân (khoảng 390-338 TCN) đã viết trong Canh pháp rằng: “Những thế hệ trước không cùng một lý thuyết, làm sao phải khuôn khổ theo cổ nhân? Những vua trước không nối theo nhau, tại sao phải bắt chước nghi lễ của họ.

          Trong sách Luận Ngữ bản dịch của Nguyễn Hiến Lê ở các trang 170, 171 đã ghi rất kỹ về cung cách giữ lễ nhà Chu của Khổng Tử. Ở đây chúng ta hãy đọc một đoạn mô tả như sau: “Khi vô cửa lớn của triều đình, ông khom khom như cửa thấp quá. Ông không đứng ở giữa cửa, khi đi không dẫm lên ngạch cửa. Đi ngang qua (ngai trống) ông biến sắc, chân run run, nói như chẳng ra lời. Khi ông vén áo lên thềm, ông khom khom, nín hơi như khó thở. Khi lui xuống một bực, sắc mặt ông hòa hoãn vui vẻ. Xuống đến bậc cuối, ông đi mau, hai cánh tay đưa thẳng như cánh chim. Trở về chỗ cũ thì ông lại cung kính, vẻ như không yên tâm”.

          Đọc qua đoạn này, chúng ta dễ liên tưởng đến một màn hài kịch do Khổng Tử “tự biên tự diễn”. Những đạo diễn, diễn viên người Hoa bây giờ như Trương Nghệ Mưu, Châu Nhuận Phát… so với thầy Khổng chỉ đáng xách dép cho thầy.

          Vào cuối thời Chiến quốc còn có mấy nhà tư tưởng nổi tiếng là Tuân Tử (khoảng 313-238 TCN) và Hàn Phi Tử (khoảng 280-233 TCN). Các học sĩ này đếu cho rằng đường lối của Khổng Nho cổ hủ, thiếu thực tế.
         
          Sách Trung Quốc Triết Học Sử của Hồ Thích đã đặt cả một tiểu mục về quan điểm của Tuân Tử là nên “Bắt chước các vua sau”. Hồ Thích trích dẫn một đoạn thiên Phi Tướng của Tuân Tử viết rằng: “Thánh vương có hàng trăm người, ta phải theo ai? Đáp: văn vật lâu đời nên tiêu mất, chức Hữu tư giữ phép, theo lễ thái quá lâu ngày cũng mất. Cho nên nói: muốn thấy vết tích của thánh nhân ắt phải căn cứ vào cái gì rõ ràng tức là các vua sau vậy… Bỏ các vua sau mà chỉ nói đến những việc thuộc về thượng cổ, cũng ví như bỏ vua của mình để thờ vua của người khác vậy”.

          Ghi chép tóm lược một số các sự kiện xảy ra trong thời Xuân Thu và thời Chiến quốc là thời Khổng Tử và thời của lớp đệ tử đầu tiên của ông, chúng ta thấy một số điểm như sau:

          Thứ nhất là Khổng Tử hoàn toàn thất bại trong tham vọng phục hồi chế độ Tây Chu mà ông diễn giải là nhắm tới mục đích Bình thiên hạ.

          Thứ hai là việc giáo dục nhằm đào tạo những nguời tài để ra làm quan giúp nước thì cũng thất bại, trong đám môn đệ được nói là có tới bảy mươi hai người đạt đến trình độ làm Người Hiền thì chỉ có ít người ra làm quan như Nhiễm Cầu, Tử Lộ, Tử Hoa, Nguyên Tư. Ngay bản thân của Khổng Tử cũng chỉ được vua Lỗ dùng trong một thời gian ngắn với chức Á Tướng Quốc (Phó Thủ Tướng).

          Thứ Ba là Khổng Nho ngay từ cội rễ đã có 3 khuyết điểm là kỳ thị chủng tộc, kỳ thị giai cấp, kỳ thị nam nữ. Chính vì các khuyết điểm này đã di hại cho đại chúng Trung Quốc vì họ đã bị dìm trong nhiều hủ tục; các quan niệm sai lầm ấy trở thành một tập quán ăn sâu trong sinh hoạt của dân chúng. Từ các khuyết điểm này đã khiến xã hội Trung Quốc khó có thể gia nhập vào sinh hoạt tiến bộ chung của toàn thể nhân loại.

          Tác hại của Khổng Nho cho tới bây giờ ở Trung Quốc vẫn đang là những vấn đề rắc rối, nan giải về các mặt chủng tộc, giai cấp và xã hội.

(còn tiếp)

Ngô Đình Vận
February 19, 2012